Mt 18,21-35
Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ, phụ trách
1. Đọc Mt 6,12.14-15. So sánh với đoạn này với Mt 18,21-35? Tìm một điểm giống nhau.
- Trong Bài giảng trên núi, khi dạy kinh Lạy Cha, Đức Giêsu đã nhấn mạnh đến thái độ cần tha thứ cho anh em. Mt 6,12 được dịch sát như sau: “Xin tha cho chúng con những món nợ, như chính chúng con cũng tha cho những người mắc nợ chúng con”. “Nợ” là lối nói ẩn dụ để chỉ về tội hay lỗi lầm. Cha trên trời sẽ tha hay không tha những lỗi lầm cho chúng ta tùy theo chúng ta tha hay không tha cho người ta (Mt 6,14-15). Trong Bài giảng về Hội Thánh ở chương 18, Đức Giêsu cũng nói về thái độ tha thứ, và cũng sử dụng ý niệm “nợ” nhiều lần (Mt 18,27.28.30.32.34). “Tha nợ” ở đây chính là “tha tội”, vì trước đó Phêrô đã hỏi Đức Giêsu: “Thưa Ngài, nếu anh em con cứ phạm tội chống lại con, thì con phải tha bao nhiêu lần?” (Mt 18,21).

2. Đọc Mt 6,12.14-15. So sánh đoạn này với Mt 18,23-35? Tìm một điểm mới.
- Có một điểm mới giữa Mt 6,12.14-15 với Mt 18,23-35. Trong đoạn văn trước, Đức Giêsu nhấn mạnh đến việc Chúa Cha tha thứ cho chúng ta nếu biết tha thứ cho anh em mình. Còn trong đoạn sau, dụ ngôn “người đầy tớ không biết thương xót” cho thấy một chi tiết mới, đó là chuyện nhà vua đã thương xót và tha thứ cho người đầy tớ này ngay từ đầu rồi (Mt 18,27), ngay khi anh ta khẩn khoản nài xin và chưa làm gì cả. Vậy lòng thương xót của Thiên Chúa là khởi điểm của mọi tiến trình tha thứ. Chỉ sau này, khi anh ta không tha thứ cho đồng bạn, sự tha thứ ấy mới bị rút lại. Lòng tha thứ của Thiên Chúa mà chúng ta đã nhận được sẽ ở lại hay không còn tùy chúng ta có chuyển lòng tha thứ đó cho anh em khác hay không. Cuối cùng Mt 6,12.14-15 và Mt 18,35 có chung một kết luận ta chỉ được Chúa tha nếu ta tha cho anh em.
3. Đọc Lc 17,4. So sánh đoạn này với Mt 18,21-22, tìm ra những khác biệt.
- Trong Lc 17,3-4 Đức Giêsu đòi ta phải khiển trách người anh em phạm tội, và tha thứ cho người ấy với điều kiện là người ấy tỏ ra hối cải. Số lần tha thứ tối đa mỗi ngày là bảy lần. Còn trong Mt 18,21-22 nói đến chuyện tha thứ vô điều kiện người anh em hối cải. Hơn nữa, số lần tha thứ ở đây lên đến bảy mươi lần bảy, nghĩa là vô giới hạn.
4. So sánh phản ứng của ông vua và của người mắc nợ nhiều trong Mt 18,23-27 và Mt 18,28-30.
- Hai đoạn văn Mt 18,23-27 và Mt 18,28-30 cho thấy hai phản ứng rất khác nhau của hai nhân vật: ông vua và kẻ mắc nợ nhiều. Ông vua đứng trước người mắc nợ mình một món nợ khổng lồ, không có gì để trả. Khi thấy người ấy “sấp mình xuống”, khẩn khoản nài xin và hứa sẽ trả hết, ông vua bèn “chạnh lòng thương” và tha luôn món nợ (Mt 18,23-27). Ngược lại, khi chính người vừa được tha này đứng trước người đồng bạn (cùng giúp việc cho chủ) mắc nợ anh ta một món tiền nhỏ so với món tiền khổng lồ anh ta vừa được tha, thì anh ta lại có thái độ khác hẳn. Người đồng bạn này cũng “sấp mình xuống” van xin và hứa hẹn sẽ trả, nhưng anh ta không tha mà lại tống vào ngục (Mt 18,28-30). Thái độ của anh này bị những đồng bạn khác nhận ra và hết sức buồn phiền, nên mới đi báo đầu đuôi câu chuyện cho ông chủ (= ông vua).
5. Câu Mt 18,21 được dịch sát là: “Nếu anh em con cứ phạm tội chống lại con…”. Tại sao ở đây Đức Giêsu mời gọi ta tha thứ cho anh em; còn trong Mt 18,15, khi anh em phạm tội, Ngài lại đòi chúng ta phải góp ý sửa lỗi cho anh em?
- Trước một người “phạm tội” đến anh em trong cộng đoàn, Đức Giêsu đòi ta có hai phản ứng khác nhau. Ở Mt 18,15-17 Ngài đòi ta phải sửa lỗi người ấy theo từng bước một. Còn ở Mt 18,21-22 Ngài lại bảo phải tha thứ nhiều lần, tha vô giới hạn. Có lẽ sự khác biệt ở đây là tùy mức độ nặng hay nhẹ của tội đã phạm đến anh em trong cộng đoàn. Nếu tội đã phạm là một tội nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn cho một cá nhân, hay gây gương xấu lớn, thì cần góp ý sửa lỗi để giúp cho người phạm lỗi hoán cải và không tiếp tục phạm. Còn nếu chỉ là những lỗi do thiếu sót, vô ý hay do yếu đuối, thì ta phải tha thứ luôn luôn. Tuy nhiên, sửa lỗi và tha thứ không phải là những thái độ ngược nhau, nhưng bổ sung cho nhau. Cả hai đều bắt nguồn từ tình huynh đệ trong cộng đoàn.
6. Tha thứ đến 70 lần 7. So sánh giá trị của mười ngàn nén vàng và một trăm quan tiền.
- Sách Sáng thế nói đến việc báo thù gấp bảy mươi lần bảy của Laméc (St 4,24). Còn ở đây Đức Giêsu nói đến việc tha thứ bảy mươi lần bảy (Mt 18,22). Việc báo thù vô hạn của người đời xưa được thay thế bằng việc tha thứ vô hạn của các kitô hữu. Chúng ta tha thứ vô hạn vì chúng ta nhận được sự tha thứ vô hạn từ Thiên Chúa. “Mười ngàn yến vàng” có giá trị cực kỳ lớn vì một yến vàng bằng 6000 ngày lương. Con số này cho thấy món nợ của chúng ta đối với Chúa thật kinh khủng so với món tiền anh em nợ chúng ta chỉ bằng 100 ngày lương.
7. Ý nghĩa của “chạnh lòng thương” ở Mt 18,27. Đọc thêm Mt 9,36; 14,14; 15,32; 20,34. Ai là người hay chạnh lòng thương trong Tin Mừng Mátthêu?
- Ông vua đã tha cho người đầy tớ mắc nợ ông món tiền cực lớn, vì ông “chạnh lòng thương” anh ta và cả gia đình anh (Mt 18,27). Chạnh lòng thương là để cho trái tim mình chạm đến nỗi khổ đau của người khác. Trong Tin Mừng Mátthêu, Đức Giêsu là Đấng hay chạnh lòng thương (Mt 9,36; 14,14; 15,32; 20,34) trước nỗi đau của con người.
8. Đọc Mt 18,33. Bạn nghĩ gì về việc Thiên Chúa có thể rút lại ơn tha thứ Ngài đã ban, nếu ta không tha thứ cho người anh em trong cộng đoàn?
- Qua câu Mt 18,33, Thiên Chúa đòi buộc chúng ta “phải” thương xót nhau như chính Ngài đã thương xót. Dụ ngôn này cho thấy Ngài có thể rút lại lòng thương xót và tha thứ nếu con người không biết thương xót anh em. Khi sống với nhau trong cộng đoàn tín hữu, anh em luôn mắc nợ nhau một điều gì đó, lớn hay nhỏ. Chính thái độ tha thứ cho anh em sẽ giữ được ơn tha thứ mà Chúa đã ban.
|
CÂU HỎI SUY NIỆM Bạn có kinh nghiệm về thương xót và tha thứ cho ai chưa? Câu nào trong dụ ngôn này đánh động bạn hơn cả? |
Bình luận