Thứ Sáu, 10 Tháng Bảy, 2015 15:21

Chặng đường 40 năm “CÔNG GIÁO VÀ DÂN TỘC” như tôi biết

Là người nghiên cứu tôn giáo và sử học, từ lâu tôi có mơ ước viết một cuốn sách về lịch sử báo chí Công giáo ở Việt Nam, đặc biệt từ cuối thập kỷ 80, khi tôi đã có thể cho ra mắt bạn đọc sinh viên các trường đại học cuốn Lịch sử báo chí Việt Nam (1865-1945). Tiếc rằng đến nay vẫn chưa thể thực hiện được. Nhiều đấng bậc, học giả, nhà nghiên cứu thân thiết trong giới Công giáo đã khích lệ bằng cách tặng cho tôi những bộ sưu tập báo chí Công giáo (linh mục Thiện Cẩm, Nguyễn Khắc Xuyên, Nguyễn Nghị...), kể cả những tờ báo Công giáo bằng tiếng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên (Lê Đình Bảng), các tư liệu gốc liên quan...

Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Quang Hưng

Nhà nghiên cứu nổi tiếng Chương Thâu, chuyên gia “Phan Bội Châu học” còn tặng tôi một số năm đầu tiên trong bộ sưu tập Công giáo và Dân tộc, đến nay tôi vẫn còn lưu giữ.

Công giáo và Dân tộc cũng đã là đề tài mà tôi gợi ý và hướng dẫn không ít các luận văn cao học, tiến sĩ về lịch sử báo chí hoặc nghiên cứu tôn giáo.

Đặc biệt, tôi cũng được khích lệ bởi những dòng chữ như thế này của nhà báo Phạm Huy Thông: Nói về báo chí Công giáo, nhiều người đồng tình với nhận xét của GS.TS Đỗ Quang Hưng: “Người Công giáo, các tờ báo Công giáo được kể như người mở đầu trong hình thức sinh hoạt văn hóa mới (trong quỹ đạo tiếp xúc và đụng độ với nền văn minh phương Tây) và nói riêng là nghề làm báo ở nước ta[1].

Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 40 năm Công giáo và Dân tộc, mọi thứ như càng thôi thúc tôi ít nhất phải “biểu lộ” một cái gì đó về tờ báo mà tôi gắn bó, trân trọng.

1. Một tờ báo Công giáo đã ở độ tuổi cao nhất trong làng báo

Báo chí tôn giáo mới có ở Việt Nam từ khi tờ Nam Kỳ địa phận (Semaine religiese) ra số 1 ngày 8.1.1908, nghĩa là muộn hơn tờ báo tiếng Việt đầu tiên hơn nửa thế kỷ là tờ Gia Định báo (1865) xuất bản ở Sài Gòn[2]. Tờ báo này tồn tại được 37 năm 2 tháng, số cuối cùng ra ngày 1.3.1945.

Từ đầu thế kỷ XX, báo chí Công giáo đã nổi lên như một dòng báo chí chuyên biệt với nhiều tờ có bạn đọc đông đảo, vượt khỏi khuôn khổ giới Công giáo như Vì Chúa (1936, Huế); Đa Minh (Dòng Đa Minh, Bùi Chu); Đức Mẹ hằng cứu giúp (Hà Nội, 1929); Hy vọng (Hải Phòng, 1937). Tuy vậy cũng chỉ có tờ Trung Hòa nhật báo ở Hà Nội là tồn tại được 22 năm (từ 9-1923 đến 1945)...

Báo Công giáo và Dân tộc đã hiện diện 40 năm tại Việt Nam

Có những tờ báo của các tổ chức yêu nước của người Công giáo Việt Nam ra đời trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt từ sau Hiệp định Giơnevơ (1954). Đáng kể nhất là tờ Chính nghĩa (1955), đến 1984 đổi tên thành Người Công giáo Việt Nam ở Hà Nội.

Như vậy, có thể nói rằng Công giáo và Dân tộc đến nay thực sự là tờ báo Đạo nổi tiếng và có “lịch sử nhất”. Nếu tính thêm 5 năm, khi tiền thân của tờ báo này được khai sinh và xuất bản ở Paris (Pháp) do nhóm Huynh đệ Việt Nam - đứng đầu là linh mục Nguyễn Đình Thi -, thì tờ báo này đã 45 tuổi, kể cả “tuổi mụ”. Người làm báo Công giáo và Dân tộc nhiều thế hệ đều ghi nhận vị linh mục đáng kính này là người đồng sáng lập Công giáo và Dân tộc, ấn phẩm ở Paris và tại Sài Gòn ngay sau 30-4-1975.

Cũng phải nói thêm rằng, trong điều kiện cụ thể hiện nay, báo chí và giới truyền thông tôn giáo còn có vị trí rất khiêm tốn. Tuy vậy, Công giáo và Dân tộc, dù trên danh nghĩa chỉ là cơ quan ngôn luận của Ủy ban Đoàn kết Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng với 2 ấn phẩm song hành Nguyệt san và Tuần báo, với số lượng cao nhất có thể, vẫn có tiếng nói trong làng báo cả nước. Đặc biệt, Công giáo và Dân tộc còn là thành viên của Hiệp hội báo chí Công giáo Quốc tế (UCIP = Union Catholique International de la Presse) có trụ sở tại Cộng hòa Liên bang Đức từ 1989[3].

Trong làng báo Việt Nam, trừ một số ít những tờ báo chính trị, xã hội lớn có điều kiện tồn tại thì độ tuổi 40 của một tờ báo tôn giáo như Công giáo và Dân tộc là điều hiếm thấy. Báo chí tôn giáo, cách riêng là báo chí Công giáo trong các xã hội châu Á, nhất là trong môi trường chủ nghĩa xã hội là điều mà các nhà nghiên cứu chắc còn phải quan tâm.

2. Chứng từ Công giáo ở Việt Nam

GS TS Đỗ Quang Hưng tại buổi hội thảo Thư Chung 1980 - 35 năm nhìn lại

Tôi lấy cảm hứng này từ bài viết giá trị của Nguyễn Thanh Long 40 năm của một chứng từ Kitô giáo Việt Nam, nhân 35 năm kỷ niệm Công giáo và Dân tộc[4]. Là người tham gia lãnh đạo tờ báo thời điểm ấy, tác giả có cái nhìn bao quát, sâu sắc không chỉ trong việc phân tích nội dung (cái bề mặt tờ báo) mà còn mổ xẻ phía sau tờ báo, tức hoạt động của Ban biên tập, chân dung nghề nghiệp các Tổng biên tập Công giáo và Dân tộc từ Lm Huỳnh Công Minh (1975-1988), Lm Vương Đình Bích (1989-1992), Lm Trương Bá Cần (1992-2009) và “phác thảo” về Tổng biên tập Lm Phan Khắc Từ (từ 2010)...

Tôi rất chia sẻ với cách nhìn của Nguyễn Thanh Long rằng “chứng từ” này của Công giáo và Dân tộc kết lại trong 4 chủ đề xuyên suốt: Một kết tinh của thời cuộcSống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bàoTừ hòa giải, hòa hợp dân tộc... Đến nỗ lực gây ý thức về phát triển và trong phát triển. Nguyễn Thanh Long viết: “Nhìn lại 40 năm qua, những quan điểm, những chọn lựa và những mục tiêu hoạt động của Công giáo và Dân tộc như đã tóm lược trên đây – trở về và hòa giải với Dân tộc, đối thoại và hợp tác với mọi thành phần Dân tộc để xây dựng và phát triển đất nước, ý thức về bổn phận và quyền lợi của công dân trong công cuộc dân chủ hóa đời sống xã hội ... -  không xa lạ mà trái lại rất gần gũi với những giáo huấn của Giáo hội, với tinh thần của Công đồng Vatican II, cụ thể hơn, với đường hướng mục vụ của bức Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam”[5].

Đành rằng, Công giáo và Dân tộc là gương mặt phản ánh đời sống tôn giáo, đặc biệt là các vấn đề thần học, giáo lý, giáo hội... của thế giới Kitô giáo, thậm chí nó còn vươn lên trao đổi, đối thoại với nhiều tôn giáo khác ngoài Kitô. Nhưng theo tôi, chủ yếu nhất tờ báo này vẫn là “chứng từ Công giáo” ở Việt Nam. Ở đây tôi muốn “đối chứng” với một trong những nhân vật Tổng biên tập của tờ báo mà tôi có điều kiện gần gũi...

Những năm đầu tiên sau khi Sài Gòn giải phóng (1975), khi bắt đầu có ý định nghiên cứu về lịch sử báo chí Việt Nam, tôi đặc biệt chú ý đến nhóm báo Công giáo và Dân tộc ở Paris của Lm Nguyễn Đình Thi (1969), trong đó có những bài viết đáng chú ý của Lm Trương Bá Cần, đặc biệt là những loạt bài viết về người Công giáo yêu nước Nam Bộ trong kháng chiến 9 năm.

Các hoạt động xã hội thường xuyên được báo CGvDT chuyển tải

Sau này qua nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, tôi mới được biết Trương Bá Cần cùng với những nhân vật tên tuổi như Nguyễn Đình Đầu, Trịnh Viết Đức, Nguyễn Quý Đức, Hoàng Minh Thức, Trần Văn Toàn, Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung...lập ra nhóm báo Sống Đạo (số 1 ra ngày 1.11.1964), tờ báo có khuynh hướng canh tân, nhập thế đầu tiên ở miền Nam theo đường hướng của Công đồng Vatican II khi Công đồng còn chưa kết thúc. Tôi chưa có dịp đọc cả bộ Sống Đạo, nhưng qua các sử liệu và một vài bài tiêu biểu, đã hiểu được giá trị đặc biệt của nó với lịch sử báo chí Công giáo Việt Nam thời hiện đại và dấu ấn của nó với một khuynh hướng chính trị xã hội tiến bộ, vì hòa bình dân chủ, dân sinh, khách quan đã hòa nhập với phong trào yêu nước ở Sài Gòn và các đô thị miền Nam lúc đó.

Nhưng phải đợi đến sau này, khi chúng tôi có điều kiện theo dõi – với tư cách độc giả, cộng tác viên và cả người nghiên cứu lịch sử báo chí, tôn giáo – công việc của ông với vai trò là người đảm trách cương vị Phó rồi Tổng Biên tập báo Công giáo & Dân tộc từ 1976 đến khi qua đời. Và cũng là chuyện hy hữu trong lịch sử báo chí Việt Nam đương đại, khi ông qua đời (ngày 10.7.2009), cho tới gần nửa năm sau, tên của ông vẫn ngự ở vị trí Tổng biên tập của tờ báo này.

Ngòi bút báo chí của Trương Bá Cần cũng thật đặc biệt. Dày dặn về kiến thức, sắc sảo trong bút pháp và lịch lãm trong những “ứng xử nghề nghiệp” báo chí. Chúng ta cũng biết rằng, ngày nay trong báo giới nước nhà, tờ Công giáo và Dân tộc có vị trí khá đặc biệt. Từ những vấn đề “gai góc” như Công giáo và Dân tộc, Công giáo và Chủ nghĩa xã hội, đến những vấn đề sống đạo của người Công giáo Việt Nam hôm nay trong hoàn cảnh đất nước mở cửa hội nhập và toàn cầu hóa..., dưới nhiều hình thức từ chính luận, thư bạn đọc, bình luận, tư liệu lịch sử..., ngòi bút Trương Bá Cần thật tung phá và uyển chuyển, luôn giữ được cái sắc sảo và cái hóm hỉnh, thâm trầm của ông đồ Nghệ. Ông tự sự: “Làm báo Công giáo và Dân tộc, thực sự, đã không dễ dàng, bởi vì phải chu toàn, cùng một lúc hai bổn phận: đối với Công giáo và đối với Dân tộc, nhất là khi Công giáo và Dân tộc không hoàn toàn hiểu nhau, không thực cùng đồng hành với nhau. Tuy vậy, trong 33 năm qua, Công giáo và Dân tộc đã cố gắng giữ được thế cân bằng để có thể đứng vững” (Lm Trương Bá Cần, 50 năm nhìn lại 28.6.1958 – 28.6.2008, xuất bản nội bộ, 2008, tr.33).

Linh mục Trương Bá Cần không phải là Tổng Biên tập đầu tiên của báo, nhưng ông thực sự là gương mặt tiêu biểu của tờ báo này. Đến nay, trong làng “báo đạo” lực lượng còn khiêm tốn, gần như chưa có sự hiện diện trên sạp báo, nhưng Công giáo và Dân tộc vẫn có một lượng độc giả trong và ngoài đạo khá trung thành vì chất lượng và vị thế đặc biệt của nó. Thậm chí, nghệ thuật làm báo vững vàng của nó đã có tiếng vang trong báo chí Công giáo quốc tế.

Tờ báo thường xuyên giới thiệu các hoạt động của giới Công giáo 

Cũng cần nói thêm rằng, trong quan hệ với chính quyền, ông không ngần ngại nêu lên những trục trặc trong quan hệ với Nhà nước của tờ báo mình như các số báo liên quan đến “Thư chung ngày 9.11.1951”, vụ đăng loạt bài liên quan đến cuốn “Tây dương Da tô bí lục” (1983, 1987), đặc biệt đăng tải những bài liên quan đến sự sụp đổ của Liên Xô, phe xã hội chủ nghĩa Đông Âu (1990-1991) cũng như một số vấn đề liên quan đến việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Đối với giáo quyền, mặc dù Công giáo và Dân tộc chưa hề gặp rắc rối nào nhưng ông cũng không ngần ngại trình bày những điều “không bằng lòng” của các đấng bậc trong Giáo hội với tờ báo. Tác giả bộc lộ những trải nghiệm của mình về thế đứng của tờ Công giáo và Dân tộc là “rất tế nhị, nhất là vào những lúc giữa Giáo hội và Chính quyền có những khác biệt trong những vụ việc cụ thể” (trang 47, sđd). Những trang viết như thế đem lại những thông tin thú vị, những hiểu biết sâu sắc hơn cho người đọc, dù là người Công giáo hay ngoài Công giáo, người bình dân hay người trí thức, thậm chí cả những người làm chính trị, quan chức có liên quan đến vấn đề tôn giáo.

Tôi thường tâm sự với các bạn đồng nghiệp, học trò trong giới tôn giáo và sử học rằng, Công giáo và Dân tộc không chỉ là một tờ “báo Đạo chuẩn mực” mà còn là một “tờ báo xã hội đáo để”, với ý nghĩa đáng yêu của từ này, thể hiện một sự trân trọng về trình độ nghề làm báo.

Hiếm có một tờ báo tôn giáo nào làm được điều này. Các chuyên mục về tôn giáo vốn đã khá ổn định và sắc nét phục vụ cho từng đối tượng bạn đọc chủ yếu của mình như với các linh mục, tu sĩ, chưa nói với “giáo hội”, giáo dân... mà còn có thêm những chuyên mục “nhỏ xinh” rất xã hội như Dừng chân (Khổng Thành Ngọc giữ gôn trong nhiều năm), hoặc Góc nhỏ phố đạo (Lê Quán Thư là chủ yếu)... Đặc biệt, Công giáo và Dân tộc còn dành hẳn mục Góc nhà cho một cây bút... Cao Đài tên tuổi (Dũ Lan, Huệ Khải tức nhà nghiên cứu Lê Anh Dũng) kéo dài đã ngót 10 năm gần như là một “cửa sổ nhỏ” về “đối thoại liên tôn”, rất tinh tế và nghệ thuật. Một vài năm gần đây, chuyên mục Thời sự suy nghĩ với cây bút chủ yếu Ngô Quốc Đông, cũng cố gắng đi theo truyền thống này.

Tờ báo luôn được sự quan tâm của nhiều chủ chăn - Ảnh: ĐGM Giuse Trần Văn Toản đến thăm tòa soạn

Có những chuyên mục còn đi thẳng vào những vấn đề nóng bỏng của chính trị - xã hội, quan hệ Đạo – Đời mà tôi phải chăm chú theo dõi thường xuyên như chuyên mục Sổ tay hàng tuần mà cây bút Thanh Long đảm trách trong nhiều năm với nhiều bài viết thật sắc sảo. Trong đó có những loạt bài về đụng độ tranh chấp đất đai, kể cả ở khu vực Tây Nguyên có thể coi là rất chuẩn mực. Tương tự như vậy trong những vấn đề “thời sự” căn bản của nhà Đạo là mục Nhìn từ Vatican của Giang Quốc Chung, chỉ dẫn cho bạn đọc trong và ngoài Công giáo dễ nắm bắt “nhịp thở” của Tòa Thánh.

Lẽ dĩ nhiên, những chuyên mục nói trên chủ yếu thuộc về tuần báo Công giáo và Dân tộc. Ấn phẩm Nguyệt san Công giáo và Dân tộc dĩ nhiên phải có một cấu trúc nội dung tính cách khác. Mặc dù khổ báo này nhỏ nhắn nhưng khá dày dặn. Chắc chắn những ưu tư chia sẻ về thần học giáo lý và những vấn đề phụng vụ và mục vụ phải là căn cốt của tờ này.

Ngay từ trước khi Giáo hội có thêm tờ Bản tin Hiệp thông (2001)[6], thực chất là một tờ tạp chí chuyên lo những vấn đề căn bản của thần học, Công giáo và Dân tộc đã tìm cho mình một con đường chuyển tải thần học và giáo lý khá độc đáo. Theo quan sát nhiều năm của chúng tôi, mảng bài viết quan trọng bậc nhất này, một mặt thu hút được những cây bút thần học, học thuật có tên tuổi nhất trong Giáo hội, mặt khác quan trọng hơn đó là một phong cách thể hiện “thần học thời hiện đại” kết hợp với lối “phong cách chính luận nhà Đạo”. Chúng ta dễ dàng tìm thấy hàng loạt những bài viết  theo phong cách ấy của những cây bút như Vương Đình Bích, Thiện Cẩm, Nguyễn Hồng Giáo, Hoành Sơn (Hoàng Sĩ Quý) và gần đây như Giám mục Bùi Văn Đọc... Những ấn tượng của họ thật sâu đậm trong bạn đọc nhất là với những chủ đề lớn và lặp lại có chủ đích như Công đồng Vatican II (20 năm, 30 năm, 35 năm, 40 năm...) cho đến những vấn đề thần học mới và giáo lý trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI.

Một dòng chảy khác của Nguyệt san Công giáo và Dân tộc là phải giải quyết những chủ đề  lớn bậc nhất của sứ mệnh tờ báo, kéo dài hàng chục năm, đó là vấn đề Công giáo và Dân tộc với chữ “và” đơn giản liền mạch nhưng lại là một nhiệm vụ vô cùng lớn lao và phức tạp. Cụ thể hơn, đó là việc hòa giải, hòa hợp dân tộc từ trong nhận thức đến hành động Đạo - Đời. Từ năm 1980, khi có bức Thư Chung nổi tiếng “sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” được coi là một dấu mốc lịch sử; đến những nỗ lực sống Đạo ngày hôm nay của người Công giáo Việt Nam trong quan hệ Đạo – Đời.

Buổi họp mặt mừng báo CGvDT được trao tặng huy chương vàng UCIP

Có thể coi đấy là những “nhiệm vụ chính trị” của tờ báo mà người làm báo Công giáo và Dân tộc qua nhiều thế hệ vẫn tâm niệm. Ngoài những cây bút quan trọng mà chúng tôi đã đề cập ở trên, chúng ta còn phải đặc biệt ghi nhận đến nhiều cây bút khác nổi bật trong dòng “tìm về dân tộc”, đó là những cây bút nổi tiếng ngay từ thập kỷ 70 như Nguyễn Đình Thi, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Lý Chánh Trung đến Trần Tam Tỉnh, Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần mà chúng tôi “dành riêng một sự phân tích”. Riêng trường hợp Giám mục Bùi Tuần với tôi lại có những đặc biệt khác. Từ lâu tôi vẫn nghĩ rằng cùng với Lm Thiện Cẩm, đó là hai cây bút “mạnh nhất” theo cách dùng từ của một cây bút khác của Công giáo và Dân tộc. Thậm chí đã có lúc Giám mục Bùi Tuần tuyên bố “gác bút”, nhưng rồi cho đến nay cây bút này vẫn hiện diện trở lại và đều đặn. Tôi có nhận xét ngòi bút thần học của Giám mục Bùi Tuần là một thứ “thần học văn cảnh” (contextuazion) như lối nói của anh em Tin Lành, bao giờ suy tư thần học cũng đi qua tình cảm con người mà tôi cũng may mắn có lần được “mối mạng” với ngài[7]. Tiếp theo là hàng loạt cây bút khác như Luật sư Nguyễn Văn Phương, Luật sư Nguyễn Ngọc Bích, Trần Khuyết Nghi... những năm gần đây.

Chúng tôi nghĩ rằng Công giáo và Dân tộc là tờ báo đạo bề thế và có kinh nghiệm nhất trong việc hòa giải và hòa hợp dân tộc, giải quyết khá căn bản những lôgic tôn giáo và đời sống cần thiết trong việc hàn gắn, xây dựng lại mối quan hệ Đạo – Đời giữa Công giáo và Dân tộc.

Tôi cũng sẽ thiếu sót lớn nếu không nhắc đến một đóng góp độc đáo khác của Công giáo và Dân tộc là câu chuyện hội nhập văn hóa của người Công giáo ở Việt Nam. Đây là một chủ đề bền bỉ, được xuất hiện đều đặn nhưng xuất hiện thường rất đúng lúc đúng chỗ. Nó có thể là những vấn đề lý thuyết, học thuật, cũng có thể là những vấn đề thực tiễn của đời sống văn hóa tôn giáo, cũng có khi là dịp kỷ niệm những nhân vật tiêu biểu... Xin kể ra đây một số cây bút tiêu biểu với chút lo lắng chưa chắc tôi đã phản ánh hết đóng góp của họ: từ Thanh Lãng, Phạm Đình Khiêm, Nguyễn Khắc Xuyên, Đỗ Quang Chính... đến Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Nghị, Phạm Hân Quynh, Vũ Duy Thống, Hoàng Minh Thức, Vương Đình Chữ...

Có những ấn tượng khác mà tôi khó phân định theo “nội dung”, nhưng nó vẫn tạo nên một cái gì rất đặc biệt của các cây bút tờ báo này. Đến nay trong tôi dường như đã có một ấn tượng định hình về “văn chương nhà Đạo” của Công giáo và Dân tộc từ Nguyễn Khảm, Ngô Phúc Hậu, Nguyễn Tầm Thường đến Khổng Thành Ngọc, Lê Đình Bảng, Lê Hữu Tuấn... Trường hợp Nguyễn Ngọc Lan và Lý Chánh Trung thì đã có ấn tượng đối với tôi ngay từ những năm đầu giải phóng, trước khi tôi được làm quen với Công giáo và Dân tộc.

Là người nghiên cứu tôn giáo, tôi đặc biệt chú ý đến mảng “lý luận về tôn giáo”, thần học và chính sách tôn giáo của Công giáo và Dân tộc. Trong một công trình nghiên cứu như thế tôi đã khẳng định chính Công giáo và Dân tộc là một trong những tờ báo đầu tiên ở nước ta sau 1975 giới thiệu chính sách tôn giáo ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (qua các bài dịch và bài viết của Tòa soạn). Hơn thế nữa nó còn là tờ báo đầu tiên đề cập một cách hệ thống, có lý lẽ sắc sảo và thực tiễn phong phú về sự hình thành và phát triển chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam; tác động, hiệu quả và cả những bất cập của chính sách ấy trong thực tiễn. Tôi đặc biệt thích thú và khẳng định loạt bài viết của Việt Tùng, kéo dài 4 số liền trên Công giáo và Dân tộc (các số 473-474-475-476)có tựa “Tìm hiểu chính sách của Đảng và Nhà nước đối với Tôn giáo”giữa thập kỷ 80 (số cuối ra ngày 19.8.1984). Đến nay tôi cũng chưa biết tác giả thực sự là ai nhưng ấn tượng nhạy bén mà Công giáo và Dân tộc đem lại là một mẫu mực.

Đặc biệt tôi còn lưu tâm hơn đến loạt bài của Vương Đình Bích, kéo dài 9 hoặc 10 số Nguyệt san Công giáo và Dân tộc (từ tháng 3 đến tháng 6-1986) với tiêu đề rất độc đáo Đời sống Công giáo và đời sống xã hội chủ nghĩa. Với những tri thức sâu sắc về Đạo và Đời, thần học và “học thuyết chủ nghĩa xã hội”, thêm nữa với những tình cảm chân thành của ông với Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng, thống nhất vừa thành công, Vương Đình Bích theo tôi đã để lại những dòng chữ cảm động bậc nhất về chủ đề này.

3. Vượt lên “tính đặc thù của báo chí tôn giáo” trong môi trường xã hội thế tục

Trong bài viết 40 năm của một chứng từ Kitô giáo Việt Nam, tôi rất chú ý đến ý kiến của linh mục Nguyễn Đình Thi, người đồng sáng lập báo Công giáo và Dân tộc ở Paris năm 1970 và tại Việt Nam năm 1975: “Có thể nói Công giáo và Dân tộc là con đẻ của Công đồng Vatican II, là kết tinh của một nhận định và ý thức về trách nhiệm của một thế hệ người Việt Nam Công giáo được thúc đẩy bởi Công đồng Vatican II... Sự ra đời của tờ báo không phải do ai giật dây hay là công cụ của một ai, mà là kết tinh của thời cuộc, thai nghén trong lòng Giáo hội và để phục vụ Giáo hội và Đất nước (CGvDT 1465-1466, 9.7.2004)”.

Mục tiêu chính trị và tôn giáo rất cao đẹp ấy của Công giáo và Dân tộc, nhưng khi đặt nó trong thực tại “một tờ báo cụ thể” thì nó lại chịu tác động của những tác động của môi trường chính trị và báo chí cụ thể. Những người làm tờ báo này hiểu rõ điều này từ rất sớm: “làm báo Công giáo dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là một thể nghiệm”, chính nhà báo, nhân vật chính trị nổi tiếng của Thành phố Hồ Chí Minh là Trần Bạch Đằng đã nói như vậy. Trong một bài viết trên Công giáo và Dân tộc, ông còn phân tích bước đi 5 năm đầu tiên của tờ báo: “Trong 5 năm, tờ báo “thể nghiệm” trên hai hướng: “thể nghiệm” làm báo với chế độ do những người Cộng sản lãnh đạo và “thể nghiệm” với độc giả Công giáo vốn nhiều mặc cảm trước thời thế”[8].

Điều này cũng nhanh chóng được những người làm báo Công giáo và Dân tộc trải nghiệm. Trần Khuyết Nghi trong bài viết Tính đặc thù của loại hình báo chí tôn giáo với nhận thức rằng, trong thể chế chính trị hiện tại, báo chí được coi là công cụ thông tin, tuyên truyền đường lối, chủ trương của nhà nước (tác giả cũng đã quên rằng, từ năm 1990 khi có Luật báo chí, thì chức năng của báo chí nước ta còn một “vế quan trọng” là tiếng nói của nhân dân – ĐQH), và tờ báo luôn “đặt dưới sự giám sát chung của cơ quan Tuyên giáo Trung ương”. Tác giả viết thêm: “Cực nhất, theo tôi, là làm báo tôn giáo, vì ngoài sự chặt chẽ với các vấn đề quan điểm liên quan Nhà nước, còn có những vấn đề thuộc về quan điểm chính thống hay tôn ti trật tự của Giáo hội. Muốn cho không bị khiển trách, phê bình, an toàn nhất cứ viết theo quan điểm chính thống của Nhà nước hay của Giáo hội, nhưng như thế thì lại chưa chu toàn vế kia của báo chí là đáp ứng được đầy đủ nhu cầu nguyện vọng thiết thực đa dạng của quần chúng hoặc giáo dân”[9].

Ngày nay nhìn lại lịch sử 40 năm của tờ báo, như ý kiến của Lm Trương Bá Cần mà chúng tôi có đề cập ở trên, hóa ra Công giáo và Dân tộc là một tờ báo “đứng cheo leo giữa hai bản thể”, tuy có một đôi lần có trong danh sách những tờ báo “bị nhắc nhở” (dĩ nhiên của cơ quan quản lý báo chí nước ta, trước hết là Ban Tuyên giáo Trung ương), nhưng chưa bao giờ bị “treo chén”. Đó quả là một thành tích nghề nghiệp, nói đúng hơn là bản lĩnh nghề nghiệp của những người làm báo đạo ở nước ta.

Tôi cũng nghĩ rằng, trong khi vẫn sống, tồn tại và phát triển của tờ báo trong “môi trường xã hội chủ nghĩa”[10], thì Công giáo và Dân tộc vẫn giữ được “bản thể” của mình và ngày một làm sáng thêm “thế giới Công giáo” của mình, và đó mới là những lý do đích thực để được Hiệp hội Báo chí Công giáo Quốc tế năm 2001 trao tặng Huân chương vàng (Gold Medal) vì thành tích “bảo vệ một cách mẫu mực quyền tự do thông tin”.

Nghiên cứu các văn kiện truyền thông báo chí của Tòa Thánh về công tác này, tôi nghĩ rằng, ngoài việc phải thích ứng trong việc làm báo ở môi trường xã hội chủ nghĩa như nước ta, báo chí Công giáo có lẽ còn phải gắn với một thao thức cơ bản, đó là sự khả tín của Giáo hội được khẳng định như thế nào trong thế giới hôm nay. Hội nghị Báo chí Công giáo thế giới năm 2010 với chủ đề “Hiệp thông và những tranh cãi trong Giáo hội. Quyền tự do phát biểu và sự thật về Giáo hội”, đã đưa ra nhận định: “Trước con mắt thế gian, Giáo hội chỉ có thể là khả tín nếu Giáo hội đó nghèo khó, thành thật, không sợ sệt và không có gì để dấu diếm”[11]. Bài báo cũng dẫn ý kiến của Giáo hoàng Bênêđictô XVI với Hội nghị đó: “Báo chí phải mang tính thực tế và hiệu quả trong một xã hội trong đó truyền thông qua truyền thanh và truyền hình ngày càng gia tăng. Tính cách Công giáo của báo viết bao hàm trách nhiệm phải trung tín với chân lý một cách minh nhiên về nội dung và trong từng bước đi hàng ngày. Các nhà báo Công giáo có bổn phận phải tìm kiếm sự thật với trái tim và trí óc của mình... Báo chí Công giáo có sứ vụ giúp con người quay về Đức Kitô...”[12].

Một trong những vấn đề được coi là nhạy cảm nhất đối với Công giáo và Dân tộc trong suốt mấy chục năm qua chính là ở chỗ này. Một mặt tờ báo luôn nêu cao nhiệm vụ hòa hợp, hòa giải dân tộc, thúc đẩy đường hướng duy nhất đúng là Công giáo đồng hành với dân tộc, nhưng mặt khác lại phải góp phần từ nhiều chiều kích để xóa bỏ những mặc cảm trong người Công giáo về chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản. Ngược lại nó cũng phải góp phần xóa bỏ những định kiến của người ngoài Công giáo với người Công giáo mà lịch sử để lại.

Hàng loạt bài viết của Công giáo và Dân tộc đã làm tốt việc này như chúng tôi đã phân tích ở thời điểm xảy ra vụ án phong Thánh (1988). Tờ báo luôn tỏ ra vững vàng, khách quan khi lột tả “không dấu diếm” những khoảng tối trong lịch sử Giáo hội cũng như sự dính líu với chủ nghĩa thực dân. Đồng thời tờ báo cũng chỉ ra những cách nhìn lệch lạc, phiến diện từ phía người ngoài Công giáo do nhiều lý do chủ quan và khách quan, thậm chí ngay với các cây bút “văn học Công giáo” chủ yếu ở miền Bắc trước 1975...

Vị thế người Công giáo ở nước ta lâu nay vẫn là một chủ đề đặc biệt. Công giáo và Dân tộc bằng cách đăng lại bài viết của Lm Nguyễn Đình Thi “Tội” của linh mục Trương Bá Cần, vốn được đăng trên Công giáo và Dân tộc số 7, tháng 4-1971 tại Paris, cho thấy cái vị thế đặc biệt ấy của người Công giáo. Nêu lại vắn tắt quan điểm tôn giáo và chính trị cấp tiến của Lm Trương Bá Cần ở thập kỷ 60-70, trong đó có nhiều hoạt động đứng ở “thế kẹt” giữa tôn giáo và chính trị, tác giả viết: “Tội” của Linh mục Trương Bá Cần là ở chỗ đó, là “tội” dám công khai hoạt động cho hòa bình, “tội” dám lên án chiến tranh, “tội” muốn thực hiện Giáo lý Phúc Âm “phúc cho những ai xây dựng hòa bình”... và khi đặt vấn đề “Tại sao đạo Công giáo chưa Việt Nam hóa được với người Việt Nam”.

Nhắc thêm một chút để thấy rõ Công giáo và Dân tộc đã phải vượt qua những thử thách khó khăn dai dẳng như thế nào về chỗ đứng của mình trong làng báo.

Tôi cũng muốn kết lại bài viết này bằng một sự kiện mà hôm nay lại là thời sự khi Quốc hội đã quyết định lộ trình xây dựng Bộ luật tín ngưỡng, tôn giáo. Tôi còn nhớ nhiều cây bút của Công giáo và Dân tộc trước đây và hiện nay đã và đang tham gia Hội đồng Tư vấn Tôn giáo của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trước và sau khi Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (2004) tiếng nói phê bình, xây dựng của họ đối với hàng chục bản dự thảo của Pháp lệnh, thảy đều thẳng thắn tâm huyết. Khi Pháp lệnh được thông qua và ban bố, Lm Thiện Cẩm đã có bài Xin chào Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đầy ý nhị. Là người trong cuộc, vị linh mục này, bên cạnh sự hồ hởi, vui mừng, đã rất tỉnh táo “phản biện” ngay: “Đọc xong văn bản chính thức của Pháp lệnh vừa được công bố, tôi thấy điều mà các tôn giáo và nhiều nhà chuyên môn mong muốn được ghi vào Pháp lệnh đã không được thể hiện. Đó là điều khoản pháp lý quan trọng, có tính thuyết phục cao về ý muốn của nhà nước đảm bảo tự do tôn giáo, đã được chính Hồ Chủ tịch đề ra ngay từ 1955. Điều khoản đó là “Chính quyền không can thiệp vào nội bộ tôn giáo” (Sắc lệnh 234-SL. Điều 13)[13]”.

Tương tự như vậy, luật sư Nguyễn Văn Phương, Linh mục Nguyễn Hồng Giáo cũng có nhận định thẳng thắn, khách quan: “Tuy đã có đổi mới, có nới rộng, nhưng các quy định của Pháp lệnh vẫn nặng nề về mặt quản lý các hành động tín ngưỡng, tôn giáo. Người tôn giáo vẫn nghĩ rằng Nhà nước cảnh giác với tôn giáo, vẫn nhìn tôn giáo chủ yếu theo quan điểm mác xít và kinh nghiệm lịch sử Việt Nam. Sự chờ đợi của giới tôn giáo trong nước về Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo tuy chưa được đáp ứng đầy đủ, nhưng dù sao về một số phương diện nào đó, Pháp lệnh cũng đã thể hiện một bước tiến mới”[14].

Tôi không thể kéo dài bài viết hơn được nữa. 40 năm tờ báo mà tôi hết sức yêu mến, quý trọng, biết bao nghĩa tình. Có lẽ đây lại là dịp mà tôi tự nhắc mình về một “món nợ” tinh thần với tờ báo: làm sao có được một nghiên cứu nghiêm túc, đầy đủ hơn để bạn đọc xa gần, nhất là bạn đọc ngoài Công giáo hiểu biết hơn về một tờ báo Công giáo mà tôi luôn coi là một dấu son nữa trong lịch sử báo chí Công giáo nước nhà, cũng như lịch sử báo chí Việt Nam nói chung.

GS.TS Đỗ Quang Hưng

 


[1] TS. Phạm Huy Thông, Diện mạo của báo chí Công giáo ở Việt Nam, Tạp chí Công tác tôn giáo, số 6, 2009.

[2] Có tư liệu nói rằng, số đầu tiên của Nam kỳ địa phận ra ngày 26-11-1908. Xem bài TS. Phạm Huy Thông, Diện mạo của báo chí Công giáo ở Việt Nam, đã dẫn.

[3] Tháng 9-2001, Tổ chức này đã trao huy chương vàng UCIP cho Công giáo và Dân tộc, lễ tổ chức tại Fribourg, Thụy Sĩ.

[4] Xem Nguyễn Thanh Long, số 1765-1766 (tuần lễ từ 9-7 đến 15-7-2010) của Tuần báo Công giáo và Dân tộc.

[5] Nguyễn Thanh Long, 40 năm chứng từ Kitô giáo Việt Nam, bài đã dẫn.

[6] Trước năm 2006 Lm Nguyễn Ngọc Sơn đảm trách bản tin này, sau đó là Gm Vũ Duy Thống, Ủy ban Văn hóa HĐGM Việt Nam đảm trách. Từ tháng 5-2009 Hiệp thông được 47 số và đã lên mạng internet qua trang dunglac.net.

[7] Năm 2012, nhân đăng bài Tỉnh thức trong tình hình mới trên Tuần san Công giáo và Dân tộc, tôi được Giám mục chia sẻ ít nhiều qua điện thoại. Tôi đã viết bài Tiếng gọi của sự tỉnh thức cũng đăng trên tuần san Công giáo và Dân tộc 1, 2 tuần sau đó.

[8] Xem bài của Trần Bạch Đằng, Công giáo và Dân tộc số 261-262, ngày 13-7-1980. Năm 1975 với tư cách Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Cục, ông là người có tiếng nói khá quyết định trong việc cho phép ra mắt Công giáo và Dân tộc tại Việt Nam.

[9] Trần Khuyết Nghi, Tính đặc thù của loại hình báo chí tôn giáo, số 1815-1816, tuần lễ từ 8-7 đến 14-7-2011.

[10] Báo Công giáo và Dân tộc theo những số liệu gần đây thì số lượng phát hành khoảng 4000 bản một kỳ với Nguyệt san, Tuần báo khoảng 15.000-18.000. Trong khi đó, tờ Người Công giáo Việt Nam ở Hà Nội cũng chỉ có lượng phát hành trên dưới 2000 bản.

[11] Xem bài Cần phải chân thành, minh bạch, không sợ sệt và không có gì dấu diếm, số 1779, tuần lễ từ 15-10 đến 21-10-2010.

[12] Xem bài Cần phải chân thành, minh bạch... bài đã dẫn.

[13] Xem Tuần báo Công giáo và Dân tộc số 1467 ngày 16-7-2004.

[14]  Lm Nguyễn Hồng Giáo, Vài nhận định về Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Tuần san Công giáo và Dân tộc số 1471 từ 20-8 đến 26-8-2004.

 

 

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm