Tôi đã nhiều lần đến Côn Đảo, nơi từng được mệnh danh là “Địa ngục trần gian” suốt 113 năm (1862-1975). Lần gần nhất là giữa tháng 7 vừa qua, và nhận ra Côn Đảo không chỉ toàn là đọa đày, lao dịch, khổ ải…, mà xen lẫn vào đó cũng còn có một góc núi tâm linh, một ngôi nhà âm nhạc và những tình tiết lãng mạn bất ngờ…
Chỉ với 50 phút bay, chiếc máy bay ATR của Công ty Dịch vụ Hàng không (SASCO) từ Tân Sơn Nhất đáp xuống sân bay Cỏ Ống. Côn Đảo đón chúng tôi bằng bầu trời xám xịt và những cơn mưa dai dẳng bởi áp thấp nhiệt đới. May mắn, buổi xế trưa trời hửng nắng. Điểm đầu tiên chúng tôi muốn đến tham quan là Hang Đức Mẹ…
Đến với Đức Mẹ Côn Đảo…

Cách khu trung tâm khoảng 3km và nằm trong khu bảo tồn rừng nguyên sinh thuộc Vườn Quốc gia Côn Đảo, Hang Đức Mẹ dù được người Pháp tìm thấy hang động và thiết kế, an vị tượng Đức Mẹ từ thế kỷ thứ 19, nhưng qua bao thăng trầm, biến thiên của thời cuộc, Hang Đức Mẹ chỉ mới được phát lộ trong thời gian gần đây nên còn rất hoang sơ, tịch mịch… Không gian như tách hẳn khỏi cuộc sống bộn bề, bon chen với những máy móc hiện đại, tiếng động cơ ồn ào. Đến với Hang Đức Mẹ giữa đại ngàn, chỉ nghe tiếng gió rung cây, tiếng chim thánh thót và cả tiếng lá rụng, khiến lòng mình cũng tĩnh lặng để thầm thì cầu nguyện… Dù chỉ cách đường nhựa khoảng gần một cây số nhưng đường đi rất dốc và khúc khuỷu. Thỉnh thoảng vắt ngang qua đường là một bộ rễ cây ngoằn ngoèo như một con mãng xà, du khách phải cao chân bước qua. May mà sau này nguời ta đã tạo những bậc đá trám xi măng và làm lan can bằng thép ở những đoạn đường dốc nên cũng bớt gian nan hơn những ngày đầu mới tìm ra địa điểm tâm linh này… Hôm chúng tôi đến viếng Đức Mẹ, dù là ngày thường nhưng cũng thấy có khá nhiều du khách là những đôi nam nữ, những người nước ngoài cũng “trèo đèo, lội suối” với chúng tôi để cùng hát lời tạ ơn : “Mẹ ơi, đời con dõi bước theo Mẹ, lòng con quyết noi gương Mẹ, xin Mẹ dạy con hai tiếng Xin Vâng…”.
Lịch sử Côn Đảo và Địa ngục trần gian
Theo nhiều sử liệu thì quần đảo Côn Lôn (tên trước đây) đã thuộc nước ta từ thời các chúa Nguyễn (thế kỷ thứ 17). Đến thời Pháp thuộc, ngày 1.2.1862 là thời điểm Thủy sư Đô đốc Bonard ký quyết định thành lập Nhà tù Côn Lôn thì quần đảo Côn Sơn với núi non hùng vĩ, biển trời xanh trong đã biến thành “Địa ngục trần gian” với 113 năm chồng chất những lao khổ, đọa đày (tính đến ngày 30.4.1975).
Thật xúc động khi được đứng trên mảnh đất hải đảo, nơi hơn 20.000 sinh mạng đã nằm xuống. Trong nghĩa trang Hàng Dương, những ngôi mộ được du khách đến viếng nhiều nhất là mộ chị Võ Thị Sáu, mộ cụ Nguyễn An Ninh, mộ cố Tổng Bí thư Lê Hồng Phong…
Trải qua 113 năm với 53 đời Chúa đảo (1862-1975), nơi đây đã đày ải, cầm tù bao thế hệ tù nhân, từ những người trong các phong trào yêu nước như Cần vương, Đông du, Đông Kinh nghĩa thục (với các tù nhân là Phụ chánh đại thần Nguyễn Văn Tường, Phụ chánh đại thần Phạm Thận Dật, Trần Cao Vân, Lã Xuân Oai, Nguyễn Thiện Kế, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện, Dương Đình Thạc, Trương Bá Huy, Phạm Cao Chẩm, Trần Trọng Cung…) đến các nhà cách mạng như Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Văn Cừ, Ngô Gia Tự, Hoàng Quốc Việt, Hà Huy Giáp, Lê Hồng Phong, Nguyễn Duy Trinh, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Lê Văn Lương... Hằng năm, vào Ngày Thương binh Liệt sĩ 27.7, quân dân và chính quyền Côn Đảo đều tổ chức Lễ tưởng niệm và thả hoa tại Cầu tàu 914 (914 là số những người tù đã bỏ mạng khi xây dựng cầu tàu này). Tương tự, dù mới chỉ xây dựng dở dang hai mố cầu Ma Thiên Lãnh mà đã có đến 356 tù nhân bỏ mạng vì lao dịch quá sức.
Ở Côn Đảo, hầu như mỗi tấc đất đều thấm máu, người tù bị biệt giam trong chuồng cọp hoặc bị đưa đi lao dịch, họ kiệt sức bởi sự tra tấn, hành hạ và có thể gục chết bất cứ lúc nào trong các trại Phú Hữu, Phú Sơn, Phú Thọ, Phú Tường (chuồng cọp Pháp); Phú Phong, Phú An, Phú Bình, Phú Hưng (chuồng cọp Mỹ); rồi Hầm Bò, Sở Đá, Mũi Cá Mập… Thế nhưng biết bao đòn roi, nhục hình vẫn không bao giờ khuất phục được tinh thần yêu nước, chúng tôi đã lặng người khi đọc tấm bia đá khắc nguyên văn bài thơ Đập đá Côn Lôn của chí sĩ Phan Châu Trinh gắn ở cổng khu đập đá banh (bagne) I - tức trại Phú Hải, dù đã thuộc nằm lòng bài thơ từ thuở bé: “Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn/ Lừng lẫy làm cho lở núi non/ Xách búa đánh tan năm bảy đống/ Ra tay đập bể mấy trăm hòn/ Tháng ngày bao quản thân sành sõi/ Mưa nắng càng bền dạ sắt son/ Những kẻ vá trời khi lỡ bước/ Gian nan chi kể chuyện cỏn con”. Và rất xúc động khi đứng trước tượng bia tưởng niệm cuộc võ trang vượt ngục của 198 tù nhân vào ngày 12.12.1952. Vì thời tiết không thuận lợi cuộc đào thoát bất thành, 81 tù nhân bỏ mình trên biển, 117 người bị bắt lại thời chúa đảo Jarty.
Nhà lưu niệm Thiên tài âm nhạc
Giữa bức tranh tổng thể đậm màu xám xịt của hệ thống nhà tù ở Côn Đảo, vẫn có một góc nhỏ là nơi cái đẹp được tôn vinh, nơi đó vẫn ánh lên chút lãng mạn dễ thương… Đó chính là ngôi nhà mà nhạc sĩ thiên tài Camille Saint Saens đã từng lưu trú suốt một tháng (từ tháng 3 đến hết tháng 4/1895). Ngôi nhà nằm biệt lập giữa biển và nhà Chúa đảo (được gọi là Nhà Công quán), mặt trông ra biển, đối diện với cầu tàu 914 - một vị trí hết sức thơ mộng…
Camille Saint Saens là nhà soạn nhạc, nghệ sĩ piano và organ người Pháp. Ông sinh ngày 9.10.1835 tại Paris. Mới 3 tuổi, ông đã sáng tác những đoạn nhạc đầu đời. 10 tuổi đã trình tấu các tác phẩm các tác phẩm của Beethoven, Mozart... 13 tuổi được nhận vào Nhạc viện Paris và trở nên nổi tiếng bằng tài nghệ biểu diễn. 18 tuổi được chọn là người đánh đàn organ cho nhà thờ Saint Merry (Paris), đây cũng là chức vụ đầu tiên của ông. Năm 1871 (lúc 36 tuổi) ông tham gia sáng lập Hội Quốc gia Âm nhạc (Societe Nationale de la Musique)... Ông còn là nhà du hành lớn, từng đi đến Nga, các nước Châu Âu, Châu Mỹ… Cuba, Miến Điện, Đông Dương… Camille Saint Saens qua đời ngày 16.12.1921 tại Alger. Tác phẩm của ông gồm 13 vở Opéra (trong đó nổi tiếng nhất là vở Samson et Dalila -1897), 10 bản Concerto (trong đó có 5 bản viết cho piano), 3 bản giao hưởng, thánh ca và rất nhiều bài hát, trích đoạn piano. Ông được đánh giá là thần đồng âm nhạc bẩm sinh, có địa vị chói sáng trong nền âm nhạc Pháp và cả Châu Âu.
Tháng 3.1895, ông đến Côn Đảo và được Chúa đảo Louis Jacquet dành ngôi biệt thự kể trên để ông lưu trú. Chính trong căn nhà này ông đã hoàn tất 3 chương cuối của vở nhạc kịch bất hủ Brunehilda... Ngày nay, ngôi nhà trở thành Nhà lưu niệm với rất nhiều hình ảnh, tài liệu về người nhạc sĩ tài hoa. Bức tượng bán thân của ông được đặt trang trọng giữa nhà, còn trên vách là dòng chữ trích từ bức thư ông gởi cho Chúa đảo trước khi từ biệt, ở đó trái tim người nghệ sĩ đã phải cám cảnh trước những tội ác của “mẫu quốc” đối với người tù thuộc địa: “Ở đâu cái đẹp được tôn trọng thì ở đó tội ác bị đẩy lui, ở đó chẳng cần đến luật pháp” (trích thư gởi Chúa đảo Louis Jacquet tháng 4/1895).
Nhạc sĩ Hoàng Nguyên bị tù Côn Đảo

Những người yêu thích âm nhạc hầu như ai cũng biết những ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Hoàng Nguyên như Ai lên xứ hoa đào, Đường nào lên thiên thai, Tà áo tím, Cho người tình lỡ, Thuở ấy yêu nhau… Ông tên thật là Cao Cự Phúc, sinh năm 1930 tại Nghệ An. Ông vào Đà Lạt dạy học (trong số học trò của ông có người sau này là nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9), đên năm 1956, thị trưởng Đà Lạt tổ chức cuộc tảo thanh, cảnh sát khám nhà Hoàng Nguyên và bắt gặp bản Tiến quân ca của Văn Cao (là quốc ca của nước CHXHCN Việt Nam). Thế là ông bị bắt đày ra Côn Đảo năm 1957. Do mến tài Hoàng Nguyên, vị chúa đảo đã mời ông làm gia sư cho con gái của mình. Chẳng bao lâu sau, một mối tình lãng mạn đã xảy ra giữa anh tù nhân tài hoa và cô tiểu thư con vị chúa đảo. Vì muốn hợp thức hóa cho đôi trẻ, chúa đảo đã vận động để trả tự do cho Hoàng Nguyên. Nhưng sau khi được trả tự do và trở về đất liền, Hoàng Nguyên đã “cao bay, xa chạy”… Sau này ông lấy vợ ở Phan Thiết và qua đời năm 1973 vì tai nạn giao thông ở Dốc 47, quốc lộ 51 (trên đường từ Sài Gòn ra Vũng Tàu).
Hà Đình Nguyên
Bình luận