Người theo các tôn giáo thường nghe nhắc nhiều đến từ “cứu độ”, tóm gọn của nhóm từ “cứu nhân độ thế”, nghĩa là cứu giúp con người thoát khỏi đau khổ, và làm cho thế giới được tốt đẹp hơn. Nhưng ơn cứu độ thật sự là gì thì nhiều tín hữu trong đạo cho đến nay vẫn chưa hiểu hết.
1. Ơn cứu độ là gì?
Nói đến cứu độ là người ta thường nghĩ đến việc cứu mình hay người khác khỏi những tai họa hay thiệt hại nào đó như mất mát, bệnh tật, nghèo khổ, chết chóc… Nhưng “ơn cứu độ, theo Công giáo, là được chia sẻ sự sống kỳ diệu của Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh, được kết hợp vĩnh viễn vào sự sống siêu việt của Chúa Cha, và được hưởng niềm vui bất tận của Chúa Thánh Thần” (x. Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình, Học thuyết Xã hội Công giáo, số 38).

Hiểu theo định nghĩa này thì mỗi tín hữu phải cảm nhận được sự sống kỳ diệu của Chúa Giêsu Phục Sinh. Đó là sự sống vượt qua mọi giới hạn của vật chất, không gian, thời gian để có thể hiện diện khắp nơi, mang lại phúc lành cho muôn loài như Chúa Giêsu. Việc được kết hợp vĩnh viễn vào sự sống siêu việt của Chúa Cha còn lạ lùng hơn nữa, vì Ngài là nguồn của mọi hiện hữu, nên người ta có thể cảm nhận được tất cả những giá trị tinh thần như chân thiện mỹ, sự sống, tình yêu và hạnh phúc. Từ đó tín hữu mới phát huy được những ân sủng phi thường của Chúa Thánh Thần ban cho để chia sẻ cho mọi người.
Xét theo tiêu chuẩn này thì rất nhiều người chúng ta chưa cảm nhận được ơn cứu độ cho mình và thể hiện cho người khác, dù Chúa Giêsu đã hoàn thành công trình cứu độ của Người từ hai ngàn năm qua.
Như thế, ơn cứu độ không phải là tình trạng sống sau khi chết, mà chúng ta gọi là thiên đàng, nhưng là tình trạng sống được thực hiện ngay ở đời này và đạt tới mức viên mãn ở đời sau. Đó cũng không phải là ân huệ đón nhận cách thụ động từ Thiên Chúa Ba Ngôi, nhưng là tình trạng sống tích cực được thể hiện bởi chính người môn đệ, mà ta vẫn gọi là việc xây dựng Nước Trời hay vương quốc của Thiên Chúa. Nước này thật sự khởi đầu ở trần gian nhờ cuộc cứu độ của Chúa Giêsu (x. Docat, số 21).
Chúng ta được Chúa Giêsu chọn để theo Người đi “loan báo Tin Mừng cứu độ” là giúp cho mọi người cảm nhận được Nước Trời ngay trong trần thế này, chứ không phải là học thuộc lòng những câu nói ghi trong sách Tin Mừng hay Thánh Kinh để giải thích cho người khác. Đó là “nước của sự thật và sự sống, của thánh thiện và ân sủng, của công lý, bình an và tình yêu” (x. CĐ Vat. II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 37; Kinh Tiền tụng lễ Chúa Giêsu là Vua vũ trụ). Mỗi khi thực hiện các giá trị này trong đời sống là ta làm cho “nước Cha trị đến”. Vậy thử hỏi trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta có tôn trọng các giá trị này và thực hiện chúng cho người khác không?
Để cứu độ loài người và vũ trụ, Thiên Chúa đã lập nên một kế hoạch, nghĩa là sắp đặt một chương trình. Ngài vận hành từng giai đoạn lịch sử thế giới theo kế hoạch đó (x. HTXHCG và Docat, chương 1, Kế hoạch tổng thể của Thiên Chúa là tình yêu).
Kế hoạch đó khởi đầu từ công trình tạo dựng vũ trụ và loài người của Chúa Cha, rồi đến việc loài người sa ngã, các dân tộc phân tán và tôn thờ các thần linh giả tạo, đến việc Chúa nhận dân tộc Israel làm dân riêng để chuẩn bị cứu độ. Tiếp đến, Chúa Cha sai Con Một là Ngôi Lời làm người, trở thành Đức Giêsu, để Người rao giảng Tin Mừng, dạy cho muôn loài đi theo con đường sự thật và sự sống để trở về với Chúa Cha.
Theo đúng kế hoạch được ghi trong Thánh Kinh, Đức Giêsu đã tự nguyện chết trên thập tự giá vào ngày 7 tháng 4 năm 30 để đền tội cho muôn loài, cho họ được hòa giải với Thiên Chúa. Người đã sống lại ngày 9.4.30 để làm chứng là cuộc cứu độ đã hoàn thành và lên trời để chứng tỏ cùng đích của sự cứu độ là “đưa muôn loài thụ tạo đến sự hợp nhất trọn vẹn với Thiên Chúa Ba Ngôi diễm phúc” (x. GLHTCG, số 260). Nhiều tín hữu Thiên Chúa giáo không biết đến ngày dương lịch này, vì thường mừng lễ Phục Sinh theo lịch Do Thái: Chúa Giêsu chịu chết vào ngày trăng tròn tháng 3 Âm lịch.
2. Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất
Sau khi sa ngã, tinh thần con người bị tội lỗi làm suy thoái, nên không còn hiểu được tội lỗi của mình xúc phạm nặng nề đến Thiên Chúa như thế nào. Khi con người phạm tội, muốn gạt bỏ Chúa là nguồn mọi ân huệ như sự sống, tình yêu, niềm vui, hạnh phúc… ra khỏi đời sống, thì đương nhiên họ phải đau khổ, bất hạnh, chết chóc. Vì Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối cao cả, nên tội lỗi này cũng nặng nề vô cùng.
Ví dụ: cũng một lời nói tiêu cực, nếu nói với người ngang hàng, sự xúc phạm có thể được tha thứ bởi lời xin lỗi trực tiếp hay nhờ một người bạn làm trung gian giúp đỡ. Nhưng nếu lời này xúc phạm đến người có địa vị cao thì tội trở nên trầm trọng, không thể trực tiếp xin tha thứ mà cần phải có người trung gian để giải hòa. Người này phải có địa vị tương đương với người bị xúc phạm, cũng như có quan hệ thân thiết với kẻ xúc phạm.
Con người, vì là thụ tạo thấp hèn, không thể xin tha thứ trực tiếp, dù có ăn năn sám hối. Các nghi lễ xá tội, sám hối, đền tội của các tôn giáo trong lịch sử, dù có giá trị nhất thời cho từng cá nhân hay dân tộc, nhưng không thể đền bù xứng đáng với Thiên Chúa, cũng như không có hiệu quả cho muôn loài. Vì thế, con người và vũ trụ rất cần vị trung gian vừa có địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, vừa là chính con người, để hành động xin tha thứ và hoà giải của vị này có giá trị vô cùng cao cả, có hiệu quả tác động đến mọi loài trong vũ trụ và tồn tại mãi mãi.
Vì thế, Ngôi Con đã tự nguyện trở thành người, thành Đức Giêsu Nazareth, để làm vị trung gian hòa giải này. Người đã thay mặt cho con người và vũ trụ vâng lời cho đến chết trên thập tự giá để chuộc lại tội bất tuân phục của con người. Nhờ đó, Người nối lại sự hiệp thông với Thiên Chúa. Con người và vũ trụ không phải chỉ được trả lại tình trạng tốt đẹp của thụ tạo trước khi phạm tội, nhưng còn được Chúa Cha nhận làm con cái và được chia sẻ sự sống kỳ diệu của chính Thiên Chúa.
Đó là lý do Giáo hội tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất (Cv 4,12), mời gọi mọi người chia sẻ ơn cứu độ này qua đức tin và đời sống.
Lm Antôn Nguyễn Ngọc Sơn
Bình luận