Công giáo Việt Nam và văn hóa dân tộc

Đoàn rước dâu vẫn do người đàn ông phúc hậu đi trước, theo sau là họ hàng hai bên. Trước kia, cha mẹ cô dâu không đưa con về nhà chồng, nhưng nay thì đa phần đều đi cùng. Khi đoàn rước dâu về đến nhà trai, mẹ chồng (ngày xưa không đi cùng đoàn) sẽ ôm bình vôi lánh đi một lúc rồi mới trở về chào khách. Cuốn Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính không giải thích phong tục này, còn Vũ Văn Khiếu thì ghi nhận trong Đất lề quê thói rằng một cụ lão Nho lý giải bình vôi tượng trưng cho tài sản - người mẹ mang theo bình vôi là để bảo vệ của cải, tránh bị hao hụt khi nhà có dâu mới. Trong Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm lại lý giải rằng việc lánh đi là để nhường quyền “nội tướng” cho con dâu, nhưng mang theo bình vôi như một dấu chỉ của quyền lực chưa trao hẳn. Theo quan sát hiện nay thì tục này đã mất và mẹ chồng cũng thường đi rước dâu.

ruocdau.jpg (199 KB)
 Một đám rước dâu

Sau khi về đến nhà trai, đôi tân hôn làm lễ Cáo Từ Đường và lễ Gia Tiên, tức là xin phép trình diện với ông bà tổ tiên nhà chồng, từ nay chính thức trở thành người trong họ. Sau đó, cô dâu chú rể ra chào họ hàng, nhận quà mừng và và những lời chúc phúc. Khi phần lễ đã xong thì hai bên gia đình cùng quan khách tham dự tiệc cưới.

Về mặt nghi thức thì đám cưới ngày nay vẫn giữ ba phần chính là Nạp Tệ (trao sính lễ), Thân Nghinh (rước dâu) và Gia Tiên, nhưng cung cách đã có phần đổi khác. Do tinh gọn phần lễ Chạm Ngõ và lễ Hỏi nên đám cưới ngày nay thường diễn ra trong hai ngày, một ngày bên nhà gái và một ngày bên nhà trai, chứ không làm trong ngày như thuở trước. Hôm làm đám bên nhà gái cũng có các lễ Nạp Tệ, Cáo Từ Đường, Yết Gia Tiên rồi cả hai bên gia đình cùng dự tiệc với quan khách. Trong buổi tiệc, cô dâu chú rể thực hiện các nghi thức du nhập từ phương Tây như cắt bánh, rót rượu, trồng cây kỷ niệm… trước sự chứng kiến của bạn bè, hàng xóm và đồng nghiệp. Hôm sau, nhà trai mới sang rước dâu để làm đám bên nhà mình, với các nghi lễ tương tự.

Riêng trong cộng đồng Công giáo, lễ Gia Tiên được dung hợp giữa truyền thống dân tộc và đức tin. Nghi thức này gồm ba phần: Tạ ơn Thiên Chúa, Kính nhớ tổ tiên Hiếu kính cha mẹ. Trong phần Tạ ơn Thiên Chúa, người chủ sự hướng dẫn đôi tân hôn dâng lời cảm tạ hồng ân tác thành, cầu xin Chúa chúc phúc cho đời sống hôn nhân, giúp họ biết yêu thương, bao dung và nâng đỡ nhau. Phần Kính nhớ tổ tiên nhắc họ ghi nhớ cội nguồn: “Con người có tổ, có tông/ Như cây có cội, như sông có nguồn”. Người chủ sự hướng dẫn họ đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn ông bà tổ tiên và thắp nhang lên bàn thờ để báo tin hôn sự - tương tự như các lễ Cáo Từ Đường, Yết Tổ, Yết Gia Tiên ngày trước, nhưng bằng các kinh nguyện Công giáo. Cuối cùng, trong phần Hiếu kính cha mẹ, cô dâu chú rể mời rượu hoặc trà song thân để bày tỏ lòng biết ơn và nhận lời chúc phúc.

Lại Mặt: Xưa người Việt có tục sau đám cưới ba ngày thì nhà trai chuẩn bị lễ vật gồm xôi, gà, trầu và rượu để con dâu cùng chồng về nhà cha mẹ ruột thắp hương trên bàn thờ gia tiên, gọi là Lại Mặt. Sau này, nhiều khi chỉ mới cưới một ngày người ta đã làm lễ Lại Mặt. Tục này ngoài để thể hiện sự giao hảo giữa hai bên gia đình, có lẽ một phần cũng là tạo cơ hội cho con dâu về thăm cha mẹ sau mấy ngày mới sống bên nhà chồng, còn lạ lẫm nhiều thứ, chưa kịp thích nghi mà nhớ nhà da diết. Ngày xưa, phụ nữ lấy chồng dù chỉ cách có một con sông hay một quãng đồng, nhưng cũng đã thành con nhà chồng, hiếm khi có dịp được về thăm gia đình, lễ Tết cũng phải ở lo chu tất cho nhà chồng chứ chẳng được về với cha mẹ đẻ. Đứng trước tương lai phải xa cách gia đình ruột thịt của mình như vậy, lễ Lại Mặt là một dịp nhỏ để nguôi ngoai nỗi nhớ nhà và được cha mẹ đón tiếp, chúc phúc. Ngày nay, nhờ phương giao thông thuận tiện, việc giao lưu, thăm viếng giữa hai bên gia đình trở nên dễ dàng hơn. Phụ nữ cũng không còn phải quanh quẩn trong gian bếp nhà chồng như trước, có thể thường xuyên về thăm cha mẹ, nên tục lễ Lại Mặt dần thưa vắng, chỉ còn được duy trì ở một số vùng nông thôn như một nét đẹp truyền thống mang tính tượng trưng.

 7.3 Kết luận

Từ việc phân tích và so sánh phong tục cưới hỏi truyền thống của người Việt với nghi thức hôn phối Công giáo Việt Nam hiện nay, có thể nhận thấy văn hóa truyền thống vẫn đang tiếp tục song hành cùng đức tin. Các nghi lễ dân gian và nghi thức phụng vụ tuy tồn tại một cách độc lập và được cử hành trong hai không gian khác nhau, nhưng lại liền mạch và thống nhất. Qua đó, ta cũng có thể thấy rõ sự linh hoạt và khả năng thích nghi của văn hóa Việt Nam trước những thay đổi của bối cảnh kinh tế - xã hội. Chính nhờ khả năng dung hòa giữa truyền thống dân tộc và đức tin tôn giáo ấy mà văn hóa Công giáo Việt Nam không chỉ giữ được bản sắc riêng, mà còn góp phần làm phong phú thêm di sản tinh thần của dân tộc.

 8. Đôi lời nhắn nhủ

Loạt bài này đã trình bày khái quát những yếu tố mà người Công giáo Việt Nam kế thừa và làm phong phú văn hóa dân tộc trên cả hai phương diện: đời sống cộng đồng (cấu trúc làng xã, kiến trúc cộng đồng, tín ngưỡng Thờ Mẫu, tục Thờ Thành Hoàng) và đời sống cá nhân (tang ma, cưới hỏi). Hy vọng rằng những thông tin được trình bày có thể mang đến cho bạn đọc một cái nhìn ban đầu về sự hội nhập, dung hợp và tiếp biến văn hóa đang diễn ra trong cộng đồng Công giáo Việt Nam - nơi hình thành một lớp văn hóa riêng biệt, vừa được nuôi dưỡng bằng bản sắc dân tộc, vừa được soi sáng bởi đức tin Công giáo; đồng thời trở thành nguồn gợi mở và cảm hứng cho các nhà nghiên cứu, những người yêu mến văn hoá, cùng tiếp tục tìm hiểu, từ đó góp phần bảo tồn những giá trị tốt đẹp và chỉnh sửa những tập tục chưa thật phù hợp.

Đồng thời, người viết cũng mong rằng loạt bài này sẽ góp phần khẳng định rằng: dù thuộc tôn giáo nào thì những truyền thống tốt đẹp được kế thừa, những tương đồng văn hóa được duy trì qua nhiều thế hệ vẫn đang khẳng định dân tộc Việt Nam chỉ là một, văn hóa Việt Nam dù có đa dạng đến đâu thì cũng thống nhất trong cùng một nguồn cội.

KỲ PHONG

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Góp nhặt những câu chuyện lịch sử
Góp nhặt những câu chuyện lịch sử
Phần phụ lục (trang 110-135) trong quyển tự điển Dictionarium Latino - Anamiticum của Đức cha Jean Louis Taberd, xuất bản năm 1838 tại Ấn Độ có in bài vãn về cuộc tử đạo của bà Inê/Anê Huỳnh Thị Thanh, em gái cha Laurent, quê Chợ Mới, Nha Trang.
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội (p2)
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội (p2)
“Khúc sông bên lở, bên bồi” là quy luật của thiên nhiên. Dòng chảy sông Cái bị thiên nhiên bồi lấp tại bãi cát thôn Hội Tín, giáp ranh thôn Hội Phú, đoạn liền kề nghĩa trang giáo xứ Mằng Lăng ngày nay.
Bình an nơi tâm hồn
Bình an nơi tâm hồn
Có những lời thầm thì hóa thành bình an. Việc nhìn nhận những thiếu sót chính là khoảnh khắc lòng can đảm hiện diện rõ nét để bắt đầu hành trình hoàn thiện bản thân.
Góp nhặt những câu chuyện lịch sử
Góp nhặt những câu chuyện lịch sử
Phần phụ lục (trang 110-135) trong quyển tự điển Dictionarium Latino - Anamiticum của Đức cha Jean Louis Taberd, xuất bản năm 1838 tại Ấn Độ có in bài vãn về cuộc tử đạo của bà Inê/Anê Huỳnh Thị Thanh, em gái cha Laurent, quê Chợ Mới, Nha Trang.
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội (p2)
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội (p2)
“Khúc sông bên lở, bên bồi” là quy luật của thiên nhiên. Dòng chảy sông Cái bị thiên nhiên bồi lấp tại bãi cát thôn Hội Tín, giáp ranh thôn Hội Phú, đoạn liền kề nghĩa trang giáo xứ Mằng Lăng ngày nay.
Bình an nơi tâm hồn
Bình an nơi tâm hồn
Có những lời thầm thì hóa thành bình an. Việc nhìn nhận những thiếu sót chính là khoảnh khắc lòng can đảm hiện diện rõ nét để bắt đầu hành trình hoàn thiện bản thân.
Tiếng xao động trên tàu dừa
Tiếng xao động trên tàu dừa
Có những chuyến đi không nhằm tìm kiếm điều gì cụ thể, chỉ đơn giản là để lòng mình được lắng lại. Tôi đến miền Tây trong những ngày cần một khoảng yên đủ rộng để nghe rõ hơn tiếng nói bên trong mình.
Triết lý của giấc mơ
Triết lý của giấc mơ
Cơn mưa chiều làm xua tan cái nóng hầm hập trong căn phòng trọ chật cuối con đường nhỏ ngoại ô thành phố. Tôi với tay lật lại cuốn Nhà giả kim đã sờn gáy.
Nơi Đền thánh Đức Mẹ Bãi Dâu
Nơi Đền thánh Đức Mẹ Bãi Dâu
Có vị trí tựa núi, hướng biển, Đền thánh Đức Mẹ Bãi Dâu ngoài công trình nhà thờ còn có nhiều tượng, phù điêu đẹp.
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội
Nhắc đến Chân phước Anrê Phú Yên, không thể không kể về Dinh Trấn Biên Phú Yên, là một trung tâm hành chánh, quân sự vang bóng một thời của Đàng Trong, cũng là nơi có nhà nguyện đầu tiên trong công cuộc truyền giáo ở Phú Yên.
Mùa trở về cuối cùng
Mùa trở về cuối cùng
Cuốn sách gần đây nhất tôi đọc mang tựa đề “Khi đàn sếu bay về phương Nam” của tác giả người Thụy Điển Lisa Ridzén. Câu chuyện viết về ông lão Bo sống một mình cùng chú chó tên Sixten.
Một biểu tượng của đức tin
Một biểu tượng của đức tin
Nhà thờ Mồ tuy chỉ là một ngôi nguyện đường khiêm tốn nhưng lại là nơi lưu giữ lịch sử đức tin kiên cường của cộng đoàn tín hữu Bà Rịa.