Làng gốm Tân Vạn vẫn đỏ lửa

Dạo quanh một vòng phường Tân Vạn, nay là một phần của phường Biên Hòa, tỉnh Ðồng Nai, sẽ dễ dàng bắt gặp hình ảnh quen thuộc nơi những ngôi nhà có phần cổ kính, đó là chiếc lu đựng nước trước sân nhà. Khu vực này trước kia cùng với gốm Lái Thiêu và gốm Cây Mai nổi tiếng ở miền Nam, với hàng chục lò nung đỏ lửa suốt ngày đêm. Nhưng ngày nay, giữa những con đường nhựa đã thay đường làng xưa, chỉ còn sót lại vài xưởng gốm âm thầm giữ lửa.

in.jpg (655 KB)
Mỗi đường vuốt là một quyết định về độ cong, độ thắt của thân lu

Gốm Biên Hòa hình thành từ cuối thế kỷ XIX, khi những người thợ thủ công trong vùng tận dụng nguồn đất sét dồi dào dọc bờ sông Đồng Nai để sản xuất các vật dụng gia đình. Nhờ vị trí nằm trên tuyến giao thương đường thủy nối miền Đông Nam Bộ với Sài Gòn - Chợ Lớn, sản phẩm gốm nhanh chóng theo ghe thuyền đến nhiều tỉnh, rồi xuất khẩu đi các nơi. Từ những chiếc lu, hũ, gốm Biên Hòa dần phát triển thêm dòng sản phẩm trang trí với họa tiết men đặc trưng, từng giành giải thưởng tại các hội chợ quốc tế đầu thế kỷ XX. Sự giao thoa giữa kỹ thuật truyền thống bản địa và phong cách trang trí Á - Âu đã tạo nên bản sắc riêng khó nhầm lẫn. Thời hưng thịnh, làng gốm Biên Hòa là một vùng rộng lớn, và làng gốm Tân Vạn chỉ là một phần.Thế mạnh của làng gốm Tân Vạn chính là sản xuất các đồ gốm gia dụng như lu, hũ, chậu…

Chúng tôi đến một xưởng gốm lâu đời, nằm khuất sâu bên trong chợ Tân Vạn, từ xa đã nghe tiếng đất do người thợ nhào và nện lên tấm gỗ đã trải nắng mưa. Bên trong xưởng là ông Trương Văn Sáng, đang đứng nắn đất, tay cầm thước tre đo lại miệng chiếc lu còn dang dở. Ông Sáng đã bắt đầu tạo hình cho những chiếc lu từ năm 14 tuổi và đến nay đã có hơn 50 năm tuổi nghề. Người đàn ông này cho biết, đa phần những xưởng gốm lớn đã di dời lên Cụm gốm sứ Tân Hạnh (xã Tân Hạnh - Biên Hòa), hiện tại nơi đây chỉ còn những hộ dân nhỏ lẻ làm việc theo đơn đặt hàng. Theo ông Sáng, đất làm lu là loại đất đen, ngày xưa lấy ngay trong vùng Tân Vạn và Cù Lao, giờ thì khó tìm hơn. Để làm một chiếc lu nước cao khoảng sáu tấc rưỡi, thợ phải chia ra sáu tầng đất, mỗi ngày nắn và vỗ một tầng, từ đáy lên miệng. Khi lớp dưới vừa se, không quá ướt nhưng vẫn còn ẩm, mới đắp lớp đất tiếp theo, để tầng bên dưới có thể giữ phần bên trên không bị đổ. Cứ như vậy, sáu ngày thành một chiếc lu, nếu trời nắng thuận. Khi nắn lu sẽ không dùng khuôn mà chỉ dựa vào mắt nhìn và tay cảm. Mỗi đường vuốt là một quyết định về độ cong, độ thắt của thân lu. Nếu tay không đều, chỉ cần chênh nhau một chút thôi là khi phơi khô, thân lu sẽ méo. Ai khéo tay phải mất khoảng một năm rưỡi đến hai năm mới có thể thành thạo.

Gia đình ông Sáng làm gốm qua ba đời, nhưng hiện con cháu không ai muốn theo nghề. “Làm gốm bẩn, lấm lem cả ngày, lại không được nghỉ. Có việc gì cũng phải ghé xưởng, không thì phải đậy đất lại chờ. Làm công ty thì cũng chừng ấy tiền, mà sạch sẽ, có máy lạnh, nghỉ cuối tuần, lại có lương hưu. Làm gốm, càng lớn tuổi càng mỏi xương khớp”, ông thở dài.

Cũng như ông Sáng, ông Bùi Văn Tuấn, một thợ gốm kỳ cựu, mang ký ức về những ngày canh lò nung bằng củi. Xưa kia, Tân Vạn có hàng chục lò nung, thợ thay phiên canh lửa để giữ nhiệt độ ổn định. “Mệt mỏi sau cả ngày làm, có lúc ngủ quên, tỉnh dậy mới thấy lửa yếu. May là chưa lần nào hỏng sản phẩm”, ông Tuấn nhớ lại, giọng đầy hoài niệm. Nay, nhiều xưởng dùng lò ga, giảm vất vả và thân thiện hơn với môi trường, nhưng hình ảnh lò củi vẫn gợi trong ông cảm giác ấm áp của một thời.

kheotay.jpg (231 KB)
Bàn tay khéo léo và sự tỉ mỉ của những người phụ nữ trong xưởng

Ông Tuấn chuyên làm gốm trang trí từ đất trắng, khác với đất đen làm lu. Đất trắng sau khi khô có màu trắng sáng, thường dùng cho các sản phẩm như đôn trụ (chân đế kê chậu cây, bình hoa). Ông vừa tỉ mỉ ép đất vào khuôn thạch cao, vừa kể về công việc này:  “Một trong những công đoạn khó nhất là bợ đất vào khuôn, bởi lẽ nếu cách mang từng lát đất không đúng, đất sẽ bị bể hoặc bị rơi xuống đất”. Những khuôn gốm làm từ thạch cao xếp thành từng dãy trong xưởng với nhiều hình dạng khác nhau. Việc của người thợ là ép đất vào sao cho thật đều, không chỗ hở, không rỗ khí. Sau đó, các khuôn được ghép lại rồi dùng đất trám những chỗ chưa kết nối với nhau. Thế là một sản phẩm đã được định hình. Đến công đoạn tháo khuôn, người thợ không khỏi hồi hộp vì một bất cẩn có thể khiến cả khối hình bị méo. Gốm ướt được phơi khô, sẽ chuyển sang màu trắng, sẵn sàng bước vào các công đoạn tiếp theo là chấm men. Việc này thường gắn liền với bàn tay khéo léo và sự tỉ mỉ của những người phụ nữ trong xưởng. Men không chỉ tạo nên lớp áo bảo vệ, mà còn quyết định phần lớn giá trị thẩm mỹ của sản phẩm.

Khác với ông Sáng và ông Tuấn, bà Nguyễn Lê Lan Thùy đến với gốm từ một con đường bất ngờ. Tốt nghiệp ngành kế toán, bà làm việc trong lĩnh vực xuất nhập khẩu cho một công ty gốm sứ. Chính những con số, đơn hàng và các chuyến hàng ra vào từ xưởng đã đưa bà đến gần với men gốm. Không dừng lại ở vai trò điều phối, có thời điểm bà làm giám đốc sản xuất, trực tiếp giám sát từng công đoạn tại xưởng. Trong đó, bà say mê nhất là đất, lửa và men gốm.

Sau khi nghỉ hưu, với sự ủng hộ của mọi người, bà Thùy thuê một xưởng nhỏ để tiếp tục theo đuổi đam mê. Bà có thể say sưa nói hàng giờ về men gốm - từ ôxít đồng, ôxít sắt đến độ bóng và nhiệt độ nung phù hợp cho từng loại. Bà cũng rành về những loại men ngày xưa phối trộn từ cao lanh, đất, tro trấu và nhiều nguyên liệu khác đến từ thiên nhiên, không dùng hóa chất công nghiệp. Ngày nay, cốt men pha sẵn giúp đảm bảo độ ổn định, nhưng với bà, niềm vui vẫn nằm ở việc trút men vào bát, nhúng cọ vào sơn và chấm từng đường men lên gốm. Theo bà: “Nếu khách chỉ yêu cầu một màu, xối men là xong. Còn khi khách yêu cầu nhiều hoa văn, họa tiết, mình phải khắc, sau đó chấm men theo các đường nét đã khắc này trước khi đem nung”. Khi chạm vào thành phẩm, người ta sẽ cảm nhận được ngay cái cảm giác gồ ghề, chìm nổi. Chính đặc trưng họa tiết khắc chìm này đã tạo nên nét độc đáo làm cho gốm đất xứ này khác với những loại khác, nơi hoa văn thường được vẽ phẳng hay được đắp nổi trên bề mặt. Men và gốm cần được xử lý cẩn thận. Men phải trộn đúng tỷ lệ, nếu không, khi nung, chỗ cháy men, chỗ chưa chín. Sản phẩm trong một mẻ nung cũng phải đồng đều về độ dày và kích thước để nhiệt phân bổ đều, đảm bảo chất lượng.

Hiện nay, các sản phẩm gốm của làng gốm Tân Vạn vẫn được nhiều nơi trong và ngoài nước đặt hàng, từ các mặt hàng gia dụng như chậu, bình, đôn đến các sản phẩm trang trí nghệ thuật. Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh gay gắt, khi người tiêu dùng có vô vàn lựa chọn từ sản phẩm công nghiệp cho đến hàng nhập khẩu, gốm được làm từ đôi tay những người thợ nơi đây vẫn có được chỗ đứng nhờ bản sắc riêng. Chính họ đã gìn giữ và phát triển làng nghề qua bao thế hệ, để từ những khối đất thô kệch, biết bao hình dáng mềm mại, tinh tế đã ra đời, và trở thành một niềm tự hào của vùng đất.

Vũ Hoàng

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Phải thay đổi từ gốc rễ
Phải thay đổi từ gốc rễ
Những con số mất cân bằng giới tính khi sinh gợi lên nỗi lo về cơ cấu dân số, đồng thời đặt ra câu hỏi chúng ta đã ứng xử thế nào với phẩm giá con người.
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Trong cuộc sống, trước một vấn đề chưa biết cách tháo gỡ, một quyết định còn nhiều phân vân, hay những nỗi niềm khó giãi bày, mỗi người lại có cách tìm kiếm lời khuyên riêng.
Sách “chữa lành” trong đời sống đức tin
Sách “chữa lành” trong đời sống đức tin
Bên cạnh những tựa sách kinh nguyện hay suy niệm, các nhà sách Công giáo hiện nay đã có nhiều tựa sách hướng đến những vấn đề rất đời thường của con người, từ tổn thương tinh thần, cảm giác lo âu, đến việc hiểu và chấp nhận bản thân,...
Phải thay đổi từ gốc rễ
Phải thay đổi từ gốc rễ
Những con số mất cân bằng giới tính khi sinh gợi lên nỗi lo về cơ cấu dân số, đồng thời đặt ra câu hỏi chúng ta đã ứng xử thế nào với phẩm giá con người.
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Trong cuộc sống, trước một vấn đề chưa biết cách tháo gỡ, một quyết định còn nhiều phân vân, hay những nỗi niềm khó giãi bày, mỗi người lại có cách tìm kiếm lời khuyên riêng.
Sách “chữa lành” trong đời sống đức tin
Sách “chữa lành” trong đời sống đức tin
Bên cạnh những tựa sách kinh nguyện hay suy niệm, các nhà sách Công giáo hiện nay đã có nhiều tựa sách hướng đến những vấn đề rất đời thường của con người, từ tổn thương tinh thần, cảm giác lo âu, đến việc hiểu và chấp nhận bản thân,...
Đồng hành với những tổn thương trong tâm hồn
Đồng hành với những tổn thương trong tâm hồn
Có những nỗi đau không dễ gọi thành tên, ẩn sau những con người vẫn chu toàn công việc, chăm sóc gia đình hay miệt mài trong sứ vụ. Đó có thể là trầm cảm, lo âu, sang chấn tâm lý hoặc những khủng hoảng âm thầm không biết chia...
Lãnh đạo TPHCM thăm Tòa Giám mục Giáo phận Phú Cường
Lãnh đạo TPHCM thăm Tòa Giám mục Giáo phận Phú Cường
Ngày 27.10, đoàn công tác Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM do ông Nguyễn Phước Lộc, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM làm trưởng đoàn, đã đến thăm Đức cha Giuse Nguyễn Tấn Tước,...
Nhìn lại hành trình mở cõi qua những dấu tích từ tiền nhân
Nhìn lại hành trình mở cõi qua những dấu tích từ tiền nhân
Tọa đàm “Hiền Nhân Mở Cõi” diễn ra tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (số 2 Ter Lê Duẩn, phường Sài Gòn, TPHCM), trong khuôn khổ chuỗi hoạt động “Nếp nhà xưa: Mạch sống người Việt” do Trung tâm Lưu trữ quốc gia II phối hợp với Nếp...
Chính sách an sinh hướng đến người già neo đơn
Chính sách an sinh hướng đến người già neo đơn
Thủ tướng vừa ban hành kế hoạch thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế. Bên cạnh mô hình nhà xã hội dành cho người cao tuổi neo đơn, còn đề cập việc phát triển các điểm chăm sóc ban ngày, dịch vụ chăm sóc...
Từ “Nhật ký truyền giáo” đến “Lá rụng về cội”
Từ “Nhật ký truyền giáo” đến “Lá rụng về cội”
Những bài viết của linh mục Piô Ngô Phúc Hậu bắt đầu xuất hiện trên báo Công giáo và Dân tộc từ số 889, ra ngày 3.1.1993, với bài “Giáo xứ Capharnaum”, mở đầu mục Nhật ký truyền giáo. Các bài trong mục này được đăng hằng tuần, sau đó...
Dấu chân trên bước đường truyền giáo
Dấu chân trên bước đường truyền giáo
Sự ra đi của linh mục Piô Ngô Phúc Hậu để lại nhiều thương nhớ trong lòng những người từng gặp gỡ, cộng tác hay được nuôi dưỡng đức tin qua các trang sách của ngài.