Một thoáng Nguyễn Trường Tộ với chính sách nông nghiệp

Những ngày đầu tháng 7, lại nhớ đến cố linh mục Phêrô Trương Bá Cần - nguyên Tổng Biên tập báo Công giáo và Dân tộc, về với Chúa ngày 10.7.2009. Ngoài “sứ vụ” làm báo, cha còn là một nhà sử học luôn quan tâm đến lịch sử phát triển Giáo hội Công giáo Việt Nam, danh nhân Công giáo Việt Nam. Một trong những công trình tinh thần cha để lại là tập sách “Nguyễn Trường Tộ - con người và di thảo”. Nhân kỷ niệm ngày giỗ lần thứ 13, bài viết này như một nén hương tưởng nhớ về cha.

Nguyễn Trường Tộ là một danh sĩ và nhà cải cách của Việt Nam ở thế kỷ XIX. 58 bản di thảo bằng chữ Hán gởi lên triều đình Tự Đức của ông là những kiến nghị thuộc nhiều lĩnh vực như giáo dục, văn hóa, kinh tế, nông nghiệp, quốc phòng, ngoại giao, tôn giáo, quan lại… Sở học của Nguyễn Trường Tộ bao quát nhiều lĩnh vực như lời ông tự nhận: “Cái cao của thiên văn, cái sâu của địa lý, cái phiền toái của nhân sự, cho đến luật lịch, binh quyền, tạp giáo, dị nghệ, các môn cách trí, thuật số, không môn nào tôi không khảo cứu” (Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo. Trương Bá Cần, NXB TPHCM 1988, trang 120). Một trong những điều trần cải cách của Nguyễn Trường Tộ là vấn đề nông nghiệp. Phát triển nông nghiệp luôn là mối ưu tư hàng đầu của ông. Chính vì thế mà trong các bản điều trần, việc nông chính được ông nhiều lần đề cập như trong Lục lợi từ (18.7.1864), Khai hoang từ (17.3.1866), Về việc học thực dụng (01.9.1866), Tế cấp bát điều (15.11.1867), đặt biệt là điều trần về Chính sách nông nghiệp (04.10.1871).

Xác định đất nước ta là nước nông nghiệp và phải đi lên từ nông nghiệp, Nguyễn Trường Tộ đã dành nhiều tâm trí cho yêu cầu quốc kế dân sinh này, ông xác định: “Bởi nông nghiệp là gốc, ăn mặc và hàng trăm nhu cầu khác cho đời sống đều nhờ nông nghiệp (…) nếu con đường này không phát triển dồi dào thì dân lo kiếm ăn cho khỏi chết đói còn chưa kịp, rảnh đâu mà nghĩ đến lễ nghĩa” (sđd, trang 251). Theo ông, tình hình nông nghiệp suy đốn lạc hậu là nguyên nhân của sự đói nghèo: “Nay ngành trồng trọt, chăn nuôi của nước ta đều phó mặc tự nhiên, không có quan viên bày vẽ, giáo dục, đốc xuất, dân chúng cứ theo lề lối cũ mà làm không gì mới mẻ cả, thì làm sao mỗi ngày một giàu thịnh” (sđd, trang 251).

Dòng Thánh Phaolô thành Chartres, một công trình kiến trúc của Nguyễn Trường Tộ

Được có điều kiện “ra khỏi lũy tre làng” tiếp xúc với nước phương Tây để mở rộng tầm nhìn, Nguyễn Trường Tộ đề xuất triều đình lập cơ quan chuyên trách lo việc nông chính: “Sở dĩ nhân dân các nước phương Tây được giàu có phần nhiều do ở nghề nông. Cho nên có đặt ra một Bộ do một vị đại quan cầm đầu coi sóc” (sđd, trang 399); đồng thời chú trọng việc đào tạo con người. Thế nên, trong các môn học mới ông đề xuất, khoa nông chính đã được xếp ở vị trí hàng đầu, nói lên tầm quan trọng của chính sách phát triển nông nghiệp. Ông gọi Nông quan là những người nhà nước chuyên lo việc nông nghiệp phải được tuyển chọn từ những “cử nhân, tú tài”, “những người ưu tú” để gánh vác trọng trách. Ông nói nông quan phải có năng lực chuyên môn: “Tất cả mọi việc về nông chính và khai hoang đều phải nắm chắc trong tay” và phẩm chất đạo đức để lo việc công: “Quan nông chính là người lo cho sự giàu có của toàn huyện. Phải có tâm sốt sắng và tháo vát mới làm tròn công việc” (sđd, trang 401). Ngoài ra, nông quan còn là người phải có “tầm” để thực hiện chính sách nông nghiệp như “chỉnh kinh giới” để quản lý đất đai: “Núi sông, đồng ruộng, biên ải của một nước cũng giống như ruộng đất vườn ao của một gia đình. Nếu là chủ nhà mà không biết hết gia nghiệp của mình có những gì, bao nhiêu, thế là rất thiếu sót đối với gia đạo” (sđd, trang 400). Chỉnh kinh giới cũng là để nắm vững nguồn lực tự nhiên tài nguyên đất nước; Nguyễn Trường Tộ chỉ ra cụ thể: “Chỗ nào núi rừng, chỗ nào sông rạch, chỗ nào hồ biển, chỗ nào ruộng nương, chỗ nào nước nghẽn, chỗ nào đất hoang, chỗ nào đất tốt, chỗ nào sỏi đá, chỗ nào sa mạc, chỗ nào thung lũng, chỗ nào thành thị, chỗ nào hiểm yếu, chỗ nào đồn ải, chỗ nào cao khô chướng độc, chỗ nào có thổ sản gì thích hợp với những giống gì, chỗ nào có nguồn lợi đất đai khoáng sản quý, chỗ nào mạch núi lên cao xuống thấp, chỗ nào có thể ra vào qua lại, chỗ nào có thể đục núi đào kênh, chỗ nào có kỳ quan thắng cảnh, chỗ nào có cổ tích danh lam, chỗ nào ở sẽ có lợi hại ra sao…” (sđd, trang 261). Không chỉ nói đến yêu cầu quản lý, trong lĩnh vực quản lý nông nghiệp, Nguyễn Trường Tộ còn bàn đến việc phát triển nông nghiệp, quảng bá tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp qua hình thức “hội chợ đấu xảo” (triển lãm sản phẩm) từ kinh nghiệm các nước phương Tây. Đây là một phương thức khuyến nông hiệu quả, giúp triều đình phát hiện những người có thành tích sản xuất, những phát minh sáng kiến cải tiến nông nghiệp. Ông khuyến dụ triều đình “khen thưởng hậu đãi” người tài để khích lệ, đề cao vai trò vị thế nhà nông: “Vì lẽ nghề nông chẳng phải là nghề sang cả gì mà được ơn triều đình khen thưởng hậu đãi (…) khiến cho trong nước biết đến tên mình, vậy ai chẳng gắng sức” (sđd, trang 399).

Nguyễn Trường Tộ còn nhận thức về tài nguyên đất đai phong phú, ông cổ vũ việc khai khẩn đất hoang, mở rộng diện tích canh tác sản xuất: “Tất cả trong dân gian có chỗ địa lợi chưa khai khẩn hết” (sđd, trang 400). Ông còn nhận định: “Dân có ruộng để làm ăn chẳng hơn là bỏ hoang phế đất đai quý báu hay sao?”. Nguyễn Trường Tộ muốn triều đình mạnh mẽ “xã hội hóa” công cuộc khai hoang, tạo mọi điều kiện để người dân làm giàu chính đáng bằng lao động : “Trừ dân có ngạch thuế ra còn bao nhiêu những người khác đều cho họ được tự do khai khẩn” (sđd, trang 401). Ông lý luận về chuyện dân giàu nước mạnh: “Nay nước ta, của công chỉ nhờ vào thuế, mà đánh thuế có hạn, chứ không có cách gì để làm cho của cải được nhiều như Phương Tây. Cái tôi gọi là làm cho có nhiều của cải ở đây không có nghĩa là bòn rút của dân để làm cho nước giàu, mà là nhân nguồn lợi tự nhiên của trời đất để sinh ra của. Do đó, nước giàu mà dân cũng giàu”. (sđd, trang 135).

Một đời thao thức về sự giàu mạnh của đất nước, Nguyễn Trường Tộ đã đem hết sở học của mình kết hợp với kiến thức thu thập từ kinh nghiệm của các nước để mưu cầu cho đất nước phồn vinh, dân giàu nước mạnh. Những bản điều trần về cải cách nông nghiệp đã toát lên được tư tưởng thân dân, lấy dân làm gốc, cũng như những kiến nghị cải cách cụ thể của Nguyễn Trường Tộ… đều là những bài học bổ ích cho đời.

MAI CHI

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Phải thay đổi từ gốc rễ
Phải thay đổi từ gốc rễ
Những con số mất cân bằng giới tính khi sinh gợi lên nỗi lo về cơ cấu dân số, đồng thời đặt ra câu hỏi chúng ta đã ứng xử thế nào với phẩm giá con người.
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Trong cuộc sống, trước một vấn đề chưa biết cách tháo gỡ, một quyết định còn nhiều phân vân, hay những nỗi niềm khó giãi bày, mỗi người lại có cách tìm kiếm lời khuyên riêng.
Sách “chữa lành” trong đời sống đức tin
Sách “chữa lành” trong đời sống đức tin
Bên cạnh những tựa sách kinh nguyện hay suy niệm, các nhà sách Công giáo hiện nay đã có nhiều tựa sách hướng đến những vấn đề rất đời thường của con người, từ tổn thương tinh thần, cảm giác lo âu, đến việc hiểu và chấp nhận bản thân,...
Phải thay đổi từ gốc rễ
Phải thay đổi từ gốc rễ
Những con số mất cân bằng giới tính khi sinh gợi lên nỗi lo về cơ cấu dân số, đồng thời đặt ra câu hỏi chúng ta đã ứng xử thế nào với phẩm giá con người.
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Trong cuộc sống, trước một vấn đề chưa biết cách tháo gỡ, một quyết định còn nhiều phân vân, hay những nỗi niềm khó giãi bày, mỗi người lại có cách tìm kiếm lời khuyên riêng.
Sách “chữa lành” trong đời sống đức tin
Sách “chữa lành” trong đời sống đức tin
Bên cạnh những tựa sách kinh nguyện hay suy niệm, các nhà sách Công giáo hiện nay đã có nhiều tựa sách hướng đến những vấn đề rất đời thường của con người, từ tổn thương tinh thần, cảm giác lo âu, đến việc hiểu và chấp nhận bản thân,...
Đồng hành với những tổn thương trong tâm hồn
Đồng hành với những tổn thương trong tâm hồn
Có những nỗi đau không dễ gọi thành tên, ẩn sau những con người vẫn chu toàn công việc, chăm sóc gia đình hay miệt mài trong sứ vụ. Đó có thể là trầm cảm, lo âu, sang chấn tâm lý hoặc những khủng hoảng âm thầm không biết chia...
Lãnh đạo TPHCM thăm Tòa Giám mục Giáo phận Phú Cường
Lãnh đạo TPHCM thăm Tòa Giám mục Giáo phận Phú Cường
Ngày 27.10, đoàn công tác Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM do ông Nguyễn Phước Lộc, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM làm trưởng đoàn, đã đến thăm Đức cha Giuse Nguyễn Tấn Tước,...
Nhìn lại hành trình mở cõi qua những dấu tích từ tiền nhân
Nhìn lại hành trình mở cõi qua những dấu tích từ tiền nhân
Tọa đàm “Hiền Nhân Mở Cõi” diễn ra tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (số 2 Ter Lê Duẩn, phường Sài Gòn, TPHCM), trong khuôn khổ chuỗi hoạt động “Nếp nhà xưa: Mạch sống người Việt” do Trung tâm Lưu trữ quốc gia II phối hợp với Nếp...
Chính sách an sinh hướng đến người già neo đơn
Chính sách an sinh hướng đến người già neo đơn
Thủ tướng vừa ban hành kế hoạch thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế. Bên cạnh mô hình nhà xã hội dành cho người cao tuổi neo đơn, còn đề cập việc phát triển các điểm chăm sóc ban ngày, dịch vụ chăm sóc...
Từ “Nhật ký truyền giáo” đến “Lá rụng về cội”
Từ “Nhật ký truyền giáo” đến “Lá rụng về cội”
Những bài viết của linh mục Piô Ngô Phúc Hậu bắt đầu xuất hiện trên báo Công giáo và Dân tộc từ số 889, ra ngày 3.1.1993, với bài “Giáo xứ Capharnaum”, mở đầu mục Nhật ký truyền giáo. Các bài trong mục này được đăng hằng tuần, sau đó...
Dấu chân trên bước đường truyền giáo
Dấu chân trên bước đường truyền giáo
Sự ra đi của linh mục Piô Ngô Phúc Hậu để lại nhiều thương nhớ trong lòng những người từng gặp gỡ, cộng tác hay được nuôi dưỡng đức tin qua các trang sách của ngài.