Những biểu hiện cụ thể của hội nhập nghi lễ Công giáo trong văn hóa Việt Nam (P4)

Múa hát dâng hoa

Một phong tục lâu đời của người Âu châu coi tháng Năm là tháng của hoa. Dần dần tháng Năm, tháng hoa được gắn với hình ảnh Ðức Maria.

Khoảng thế kỷ XVI, ở Rôma, thánh Philipphê Nêri dạy cho giới trẻ tôn kính Ðức Mẹ trong tháng Năm. Vào cuối thế kỷ XVII, việc tôn kính trên được hệ thống hóa và mở rộng ở nhiều nơi.

Linh mục Ðôminici, người Ý, dòng Tên, soạn một cuốn sách gồm các Kinh nguyện, hạnh tích và lời kêu gọi sống các nhân đức theo gương Ðức Maria mỗi ngày trong tháng Năm. Nhưng Kinh nguyện chỉ bó hẹp trong phạm vi cá nhân và gia đình. Chỉ đến năm 1787, một linh mục bề trên dòng Tên ở Rôma mới hoàn thiện cuốn sách về Ðức Mẹ Maria gởi tới tất cả các Giám mục trong nước yêu cầu truyền bá trong các giáo xứ, thì hình thức tôn kính Ðức Maria trong tháng Năm mới được lan rộng khắp châu Âu, châu Mỹ và các xứ truyền giáo

Trong Thư chung gởi bổn đạo Tây Ðàng Ngoài, linh mục Bảo Lộc Phước (Puginier) cho biết: “Chẳng khỏi bao lâu các nước bên Tây cùng cả và thế gian đã lập tháng Ðức Bà. Bây giờ trong các nhà thờ làm cách trọng thể sốt sắng quá sức. Trong tháng ấy, hàng ngày giảng giải nguyện ngắm hát mừng ngợi khen Ðức Bà; nơi thì đi kiệu xa viếng nhà thờ Ðức Bà đã làm phép lạ mà xem lễ cùng chịu lễ ở đấy; nơi thì hàng ngày bổn đạo, dù kẻ khô khan, dù người ngoan đạo đều đến nhà thờ như hội, chẳng khác gì như ngày lễ trọng vậy; Kẻ nọ thì đem những hoa thơm tho tốt lành để trên bàn thờ Ðức Bà, là hình bóng các nhân đức Ðức Bà đã xông như hương thơm vào trong lòng làm cho kẻ cậy trông được vui mừng; Người kia dâng của nến, sáp, tiền nong để sắm sửa màn, ảnh, kiệu, tượng, làm nhà thờ hay làm bàn thờ riêng Ðức Bà; Mọi người họp một lòng cầu nguyện ngợi khen kính mến. Ai đến mà trông thấy công việc làm sốt sắng dường ấy, dù bấy lâu trước tội lỗi cứng lòng thể nào mặc lòng, thường cũng phải động lòng ăn năn ở lại; Thật là phép lạ Ðức Bà làm hàng ngày tỏ ra quyền phép người hay thương cứu giúp kẻ có lòng trông cậy”[1] . Phần nội dung tiếp theo của Thư chung, Giám mục Bảo Lộc Phước cổ xúy cho Tháng Ðức Bà ở Việt Nam.

Như vậy, từ rất sớm trong phụng tự, Giáo hội Công giáo Việt Nam đã thực hành nhiều nghi lễ tôn kính Ðức Maria với các hình thức như đi kiệu Ðức Bà, múa hát dâng hoa… Về thời điểm ra đời các nghi lễ trên thật khó xác định.

Tư liệu thành văn cho biết, năm 1903, Ðức Giám mục Phêrô Maria Ðông ra Thư chung về Kinh cầu Ðức Bà, gồm kinh cầu bằng các thứ tiếng như tiếng Latinh, tiếng An Nam, tiếng Hán Nôm (được gọi là kinh cầu chữ). Trước đó, Ðức Giám mục Liêu (Retord) (1831 -1858) ra Thư chung quy định về cách đi kiệu Ðức Bà. Năm 1906, Ðức Giám mục Ðông cũng ra Thư chung quy định về cách đi kiệu Ðức Bà. Năm 1906, Ðức Giám mục Ðông ra Thư chung quy định cách xông hương tượng Ðức Bà; trong một Thư chung khác, Ðức Giám mục yêu cầu lập Sổ các ngày đi kiệu Ðức Bà trong các xứ về địa phận Tây Ðàng Ngoài.

Ở thời điểm đầu thế kỷ XX, Ðức Giám mục Phêrô Maria Ðông ra Thư chung quy định về việc rước hoa. Thư chung viết: “Khi rước kiệu, rước hoa trong tháng Ðức Bà thì được rước trong họ với nhau; còn sự họ này rước sang họ khác cứ sự thường không nên, nhất là khi phải nơi gián tòng xôi đỗ hay là phải đi qua chợ, qua đường cái lắm người bộ hành kẻo có ai khinh dẻ sinh sự cách nào chăng. Lại khi rước chẳng kỳ việc gì phải cấm kẻ dẹp đàng không được dức lác, đánh đấm người ta” v.v...

Căn cứ vào Thư chung thì trước thời điểm ra Thư chung ở các xứ đạo miền Bắc đã có những cuộc rước kiệu hoa, rước hoa tháng Ðức Bà rất rầm rộ từ họ đạo này qua họ đạo khác, hoặc có khi là từ xứ đạo này qua xứ đạo khác.

Tài liệu điền dã của chúng tôi ở xứ Phát Diệm (Kim Sơn, Ninh Bình) cho thấy, thời kỳ làm linh mục chính xứ Phát Diệm, linh mục Trần Lục đã tổ chức múa hát dâng hoa và đi kiệu hoa.

Hằng năm vào tháng Năm, dưới hang Lộ Ðức xây dựng từ năm 1896, các cuộc múa hát dâng hoa diễn ra trọng thể mà vui tươi, trang nghiêm mà rộn rã dâng kính Mẹ Maria. Các lời vãn hoa[2], điệu múa khi hái hoa, lúc dâng hoa do linh mục Trần Lục đặt và đạo diễn.

Những bài dâng hoa đầu tiên ở xứ Phát Diệm nay không còn tài liệu. Hiện có một bài sưu tầm được xem là cổ do các sơ ở dòng Mến Thánh Giá Lưu Phương ghi lại:

Lạy ơn rằng Thánh nữ trung phúc lạ.

Khóm Mân Côi... a khóm Mân Côi gìn giữ các hoa thơm.

Ðỏ chói vàng ươm... hoa đỏ chói nhị vàng ươm

Trái cây mườn rằng mượp lá um rườm

Thật rằng cây rễ

Người ta vun trồng... vun trồng và ràng nghìn cây năm xưa...

Giai điệu hát vãn được cải biên từ những làn điệu ca truyền thống. Linh mục chính xứ Phát Diệm lúc đó là người Pháp, lấy tên Việt là Ðộ, lúc đầu phản đối việc mang các “cung đời” vào đạo làm thiếu nghiêm trang. Giáo dân, nhất là những người Nho học tìm mọi cách giải thích cho “cố Ðộ” sự quan trọng của tinh thần dân tộc trong tôn giáo, và đưa các cô học trò vào nhà xứ hát riêng cho cố nghe một cách rõ ràng lời của các bài vãn. Sau cùng, cố phải bằng lòng chập thuận”[3].

Các buổi dâng hoa thường tổ chức sau các buổi làm việc đền tạ Ðức Mẹ tại nhà nhờ Lớn, chừng 4 giờ chiều, đoàn hoa được rước trọng thể từ cuối nhà thờ, đàn hát nhộn nhịp, rộn rã.

PGS.TS Nguyễn Hồng Dương

_____________________________________

1 Sách thuật lại các Thư chung địa phận Tây Ðàng Ngoài. In tại Kẻ Sở, 1908, tr.58.

2 Trong Ðại Nam Quốc âm tự vị, ông Paulus Huỳnh Tịnh Của dịch nghĩa: “Vãn là chuyện đặt có ca vần; lời than tiếc làm cho vần hoặc những câu ca đạo hò với nhau (vãn ca)”. Theo ông Dương Tự Quán trong bài “Khảo về Ðào Duy Từ” đăng trên báo Tri Tân sổ 164 (Oct.1944) thì “Vãn là một tiếng cổ, chỉ mấy lối văn vần, có công dụng bình dân. Ðại để có hai lối: Văn hai - văn tứ - văn lục bát và văn kể chuyện, cũng gọi là chuyện vè, chuyện hát, đọc lên nghe lâm ly, ngân giọng cho ảo não (than van, điếu văn). Do đó, nên hiểu vãn như một bài ca trường thiên (thường là thể lục bát) nhằm tạo đạt một thi hứng, tả cảnh, tả tình, có nhạc cách êm dịu, ngân lên có thể gây hứng thú văn chương.

Lê Ðình Bảng: Trước máng cỏ, đọc lại “Giáng sanh vãn” của người xưa. Nguyệt san Công giáo và Dân Tộc, số 24 tháng 12-1996,tr. 73.

3 Viết phần này, chúng tôi có sử dụng tư liệu của Hồ Linh Vũ Ngọc Anh: Nét đặc trưng văn hóa dân tộc từ vè cụ Sáu tới Than mồ và Vãn dâng hoa. Trong sách Trần Lục, sđd

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Giáo hội Phật giáo Việt Nam chuẩn bị tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và kỷ niệm 45 năm thành lập
Giáo hội Phật giáo Việt Nam chuẩn bị tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và kỷ niệm 45 năm thành lập
Từ ngày 5 đến 7.11.2026, tại Học viện Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ tổ chức Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ X, nhiệm kỳ 2026-2031, đồng thời cử hành lễ kỷ niệm 45 năm thành lập Giáo hội (7.11.1981 -...
Phải thay đổi từ gốc rễ
Phải thay đổi từ gốc rễ
Những con số mất cân bằng giới tính khi sinh gợi lên nỗi lo về cơ cấu dân số, đồng thời đặt ra câu hỏi chúng ta đã ứng xử thế nào với phẩm giá con người.
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Trong cuộc sống, trước một vấn đề chưa biết cách tháo gỡ, một quyết định còn nhiều phân vân, hay những nỗi niềm khó giãi bày, mỗi người lại có cách tìm kiếm lời khuyên riêng.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam chuẩn bị tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và kỷ niệm 45 năm thành lập
Giáo hội Phật giáo Việt Nam chuẩn bị tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và kỷ niệm 45 năm thành lập
Từ ngày 5 đến 7.11.2026, tại Học viện Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ tổ chức Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ X, nhiệm kỳ 2026-2031, đồng thời cử hành lễ kỷ niệm 45 năm thành lập Giáo hội (7.11.1981 -...
Phải thay đổi từ gốc rễ
Phải thay đổi từ gốc rễ
Những con số mất cân bằng giới tính khi sinh gợi lên nỗi lo về cơ cấu dân số, đồng thời đặt ra câu hỏi chúng ta đã ứng xử thế nào với phẩm giá con người.
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Trong cuộc sống, trước một vấn đề chưa biết cách tháo gỡ, một quyết định còn nhiều phân vân, hay những nỗi niềm khó giãi bày, mỗi người lại có cách tìm kiếm lời khuyên riêng.
Sách “chữa lành” trong đời sống đức tin
Sách “chữa lành” trong đời sống đức tin
Bên cạnh những tựa sách kinh nguyện hay suy niệm, các nhà sách Công giáo hiện nay đã có nhiều tựa sách hướng đến những vấn đề rất đời thường của con người, từ tổn thương tinh thần, cảm giác lo âu, đến việc hiểu và chấp nhận bản thân,...
Đồng hành với những tổn thương trong tâm hồn
Đồng hành với những tổn thương trong tâm hồn
Có những nỗi đau không dễ gọi thành tên, ẩn sau những con người vẫn chu toàn công việc, chăm sóc gia đình hay miệt mài trong sứ vụ. Đó có thể là trầm cảm, lo âu, sang chấn tâm lý hoặc những khủng hoảng âm thầm không biết chia...
Lãnh đạo TPHCM thăm Tòa Giám mục Giáo phận Phú Cường
Lãnh đạo TPHCM thăm Tòa Giám mục Giáo phận Phú Cường
Ngày 27.10, đoàn công tác Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM do ông Nguyễn Phước Lộc, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM làm trưởng đoàn, đã đến thăm Đức cha Giuse Nguyễn Tấn Tước,...
Nhìn lại hành trình mở cõi qua những dấu tích từ tiền nhân
Nhìn lại hành trình mở cõi qua những dấu tích từ tiền nhân
Tọa đàm “Hiền Nhân Mở Cõi” diễn ra tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (số 2 Ter Lê Duẩn, phường Sài Gòn, TPHCM), trong khuôn khổ chuỗi hoạt động “Nếp nhà xưa: Mạch sống người Việt” do Trung tâm Lưu trữ quốc gia II phối hợp với Nếp...
Chính sách an sinh hướng đến người già neo đơn
Chính sách an sinh hướng đến người già neo đơn
Thủ tướng vừa ban hành kế hoạch thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế. Bên cạnh mô hình nhà xã hội dành cho người cao tuổi neo đơn, còn đề cập việc phát triển các điểm chăm sóc ban ngày, dịch vụ chăm sóc...
Từ “Nhật ký truyền giáo” đến “Lá rụng về cội”
Từ “Nhật ký truyền giáo” đến “Lá rụng về cội”
Những bài viết của linh mục Piô Ngô Phúc Hậu bắt đầu xuất hiện trên báo Công giáo và Dân tộc từ số 889, ra ngày 3.1.1993, với bài “Giáo xứ Capharnaum”, mở đầu mục Nhật ký truyền giáo. Các bài trong mục này được đăng hằng tuần, sau đó...