Những mùa trăng tuổi mọn

Mấy hôm nay, ảnh hưởng cơn bão từ đâu ghé qua, nơi tỉnh lẻ tôi ở cứ sụt sùi, ướt át, lạnh tê, lạnh tái cả ngày. Mất hẳn cái phong vị vào Thu huê tình, lãng mạn của một thuở một thời ngất ngây trong cảm xúc bay bổng, khi ngồi trong lớp, giảng về Truyện Kiều cho học trò, những năm trước 1975 ở Sài Gòn: “người lên ngựa, kẻ chia bào/ … rừng phong, Thu đã nhuốm màu quan san”.

Đến nay, đã gần hết đời người, tôi vẫn không sao quên được những rung động rất đỗi trẻ thơ, như còn váng vất, ràng ríu đâu đó trong những bài tập đọc hoặc chính tả. Là những đoản văn thơ chọn lọc từ các tác phẩm của Thạch Lam, Khái Hưng, Đinh Hùng, Thanh Tịnh…, và cả từ những trích đoạn của Anatole France, Alphonse Daudet, như Livre de mon ami, La vie en Fleur, Le Petit Chose, Lettres de mon Moulin, Les Etoiles… Phải chăng, đó là cơn bão rớt từ văn chương Pháp còn vương lại trong vuông sân chật hẹp, non nớt, là tấm linh hồn của cậu bé nhà quê tôi, dẫu có phôi pha, nhạt nhoà. Trong muôn một, tôi vẫn thầm cám ơn chuỗi tháng ngày chập chững bước đi ấy. Lớn lên một tí, tôi biết rõ hơn. Đó là khoảng trời xa xăm, xanh mướt, là lạ, bước ra từ những trang giáo khoa thư. Tôi muốn nói rõ hơn, về cái thế giới lễ độ làm người và chữ nghĩa văn chương, thi phú tuyệt vời, chuẩn mực, kỷ cương của Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư và Quốc Văn Độc Bản của các nhà sư phạm Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận ở thập niên 1930-1940 của thế kỷ trước. Của những De Amicis, bản dịch Tâm Hồn Cao Thượng của nhà giáo đồng hương Hà Mai Anh; của Quẳng Gánh Lo Đi Và Vui Sống, của Đắc Nhân Tâm, Đồng Xanh Bắt Trẻ…; rồi Tâm Tình Hiến Dâng, Lời Dâng và Tặng Vật bản dịch của Đỗ Khánh Hoan…

Riêng vào dịp Tết Trung Thu hằng năm, chúng tôi lại còn có cả một vòm trời lấp lánh những vì sao, là những trò chơi dân gian nhà quê, là thế giới rộn ràng những cung bậc và ngôn ngữ; là những kỷ niệm vời vợi trong ký ức, như hãy còn thơm tho trênmôi miệng chúng tôi. Hình như, tôi trộm nghĩ, ngày xưa người lớn thương yêu và chăm sóc con cháu kỹ hơn, dạy dỗ con cháu có nề nếp, đàng hoàng hơn chăng? Chẳng thế mà sách vở cứ là đầy ắp những vần điệu, những hình ảnh đậm đà của cha mẹ, con cái, bà cháu. Một trong nhiều, rất nhiều bài học thuộc lòng, tôi còn nhớ như in là: “Bà ơi, cháu rất yêu Bà/ Đi đâu, bà cũng mua quà về cho/ Hôm qua, có cái bánh bò/ Bà chia cho cháu phần to nhất nhà/ Mỗi lần cháu chạy chơi xa/ Hễ mẹ cháu đánh thì bà lại can…”.
Còn nhớ ngày xưa, ở làng quê - xứ đạo, tuy cái ăn, cái ở và cái may mặc, học hành, sách vở, chữ nghĩa còn thiếu thốn, khổ sở lắm; nhưng lúc nào cũng thong dong, thư nhàn, đong đầy những kỷ niệm không dễ gì tàn phai. Ký ức tuổi thơ ấy, thực ra, đã khởi đi và diễn ra ở những không gian, thời gian bắt nguồn từ những sinh hoạt rất tự nhiên, dân dã, thật thà: hiên nhà, ruộng vườn, xóm đạo, nhà xứ, nhà thờ, đêm trăng, cấy cày, gặt hái, phơi phong, xay lúa, giã gạo, thổi cơm, đi chợ, bán hàng, đi lễ, rước kiệu, dâng hoa, đánh chắt, đánh chuyền, tập trận, thả diều, ô quan và làm đèn, rước đèn Trung Thu… Thôi thì đủ trò, đủ trống, mùa nào thứ nấy. Vừa chạy nhảy múa may, lại vừa ca hát líu lo, có vần có điệu hẳn hoi. Trẻ con lớn lên, đi xa, vẫn có đấy, một nơi chốn để nhớ về, vẫn có một khoảng trời riêng để ương ấp, mộng mơ. Hết “thả đỉa ba ba, chớ bắt đàn bà, phải tội đàn ông…”; “cá sấu, cá sấu lên bờ”; lại đến “rồng rắn lên mây có cây ngũ sắc, có nhà hiển vinh”; “ông giẳng ông giăng, xuống chơi với tôi, có nồi cơm nếp, có tệp bánh chưng, có lưng hũ rượu”; “thiên đàng, địa ngục đôi bên”... Thôn trên, xóm dưới, ngoài ngõ, trong vườn nghĩa là cứ vang rền nền nảy. Khối đứa, còn bày ra, tập “làm lễ” và “khấn dòng” ngay từ tấm bé xa lắc xa lơ mịt mù ấy… Không kể sao hết chuyện.

Đến nay, đầu đã trắng xóa hoa lau. Tôi vẫn không thể nào quên những đêm trăng vằng vặc hồi mới tản cư 1951-1953 từ vùng tự do ở bên bờ sông Hóa về Kiến An, đỗ nhờ nhà bác Giao tôi ở ngay dưới chân núi Voi. Bầu trời đêm miền núi mùa Thu sáng như gương. Mấy đứa con nhà giàu đang tung tăng rước đèn với nhau ở xóm Thượng. Còn bọn trẻ nhà nghèo chúng tôi thì ới nhau vào sườn núi, chỗ có con suối nước trong và những bụi hoa mẫu đơn mọc đầy. Thế là bắt đầu hát những: Một ông sao sáng, hai ông sáng sao…; Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng Cuội già, ôm một mối mơ…; Ta yêu cô Hằng, đêm khuya xuống trần, một đàn con trai rủ đàn con gái ra ngồi nhìn trăng…; Chú Cuội ngồi gốc cây đa, để trâu ăn lúa, gọi cha ơi ời... Của đồng dao, của Lê Thương, của Phạm Duy đấy. Đặc biệt, trong chùm ca khúc tuổi thơ dễ thương ấy, không đứa nào mà không thuộc những câu hát của bài “Trung Thu Chèo Thuyền”: “đồng một lòng chúng ta cố chèo/ Thật nhịp nhàng tay bơi, tay lái/ Mặc cho sông to, sóng đưa…/ Bập bềnh trên sông bao la/ Bập bềnh trên sông bao la…”. Ca khúc này, mãi về sau tìm hiểu, mới biết là của linh mục Roch Phương Linh (1921-1995 ), tên thật là Trần Hữu Linh (1921-1995), quê quán làng Thượng Kiệm, Kim Sơn, Ninh Bình, Phát Diệm, đã chiếm giải khôi nguyên của Hội Khuyến Nhạc Việt Nam năm 1945. Nhưng ở đây, tôi muốn nói tới, có một ca khúc Trung Thu khác, đã ghi đậm dấu ấn trong tâm hồn trẻ Việt Nam. Ca khúc “Rước Đèn Tháng Tám”, ra đời ngay sau đó ít năm, 1950 của Vân Thanh, là bút danh của nhạc sĩ Đức Quỳnh. Tên thật là Nguyễn Đức Quỳnh sinh năm 1922 tại Hà Nội. Tên tuổi Đức Quỳnh đã nổi nang từ thời tiền chiến, với những cây đa cây đề của làng âm nhạc Việt Nam buổi đầu, như Lê Thương, Văn Cao, Phạm Duy, Canh Thân, Đan Thọ, Hùng lân, Hải Linh… Ông bắt đầu sáng tác từ 1947, với ca khúc đầu đời “Nhớ Ai”. Năm 1954, ông di cư vào Nam, có mở một phòng trà ca nhạc ở góc đường Cao Thắng, có dạy nhạc cho danh ca Lệ Thu. Sau 1975, ở lại Sài Gòn, sống bằng nghề dạy đàn, nhạc cho đến khi qua đời ngày 18.6.1994.

Sự nghiệp ca nhạc của Đức Quỳnh không nhiều, nổi bật là các tác phẩm: Giờ Biệt Ly, Hát Đi Em, Ghé Đây Thuyền Mơ, Tiếng Chuông Chiều, Thoi Tơ và Vẩn Vơ (thơ Nguyễn Bính) 1948; Ta Lại Yêu Ta (thơ Cung Trầm Tưởng) 1961. Như thế là từ 1947 đến 1973 một chặng đường khá dài của một đời người làm nghệ thuật. Có lẽ, chẳng cần dài dòng. Chỉ cần chép lại đây đôi hàng, là ai nấy đều bắt nhịp và hát theo ngay, dù bài ca này đã ra đời cách nay 73 năm, mùa Thu 1950 ở Hà Nội: “… tết Trung Thu rước đèn đi chơi…/ Em rước đèn đi khắp phố phường/ Lòng vui sướng với đèn trong tay/ Em múa ca đón ánh trăng rằm…”. Giai điệu và lời ca bài hát ấy là một bức tranh toàn cảnh đầy đủ sắc màu sinh động về một mùa trăng Trung Thu của trẻ em Việt Nam. Nó thân quen, đến nỗi đã có một “dị bản”, được “chế biến” thành một lời ca khác, nghe khá nghịch ngợm, vui tai và bông đùa, hài hước.

Phải là thấm thía và nhập tâm lắm thì người ta mới biến hóa, vẽ vời ra được!

Francis Assisi Lê Đình Bảng

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Phải thay đổi từ gốc rễ
Phải thay đổi từ gốc rễ
Những con số mất cân bằng giới tính khi sinh gợi lên nỗi lo về cơ cấu dân số, đồng thời đặt ra câu hỏi chúng ta đã ứng xử thế nào với phẩm giá con người.
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Trong cuộc sống, trước một vấn đề chưa biết cách tháo gỡ, một quyết định còn nhiều phân vân, hay những nỗi niềm khó giãi bày, mỗi người lại có cách tìm kiếm lời khuyên riêng.
Sách “chữa lành” trong đời sống đức tin
Sách “chữa lành” trong đời sống đức tin
Bên cạnh những tựa sách kinh nguyện hay suy niệm, các nhà sách Công giáo hiện nay đã có nhiều tựa sách hướng đến những vấn đề rất đời thường của con người, từ tổn thương tinh thần, cảm giác lo âu, đến việc hiểu và chấp nhận bản thân,...
Phải thay đổi từ gốc rễ
Phải thay đổi từ gốc rễ
Những con số mất cân bằng giới tính khi sinh gợi lên nỗi lo về cơ cấu dân số, đồng thời đặt ra câu hỏi chúng ta đã ứng xử thế nào với phẩm giá con người.
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Trong cuộc sống, trước một vấn đề chưa biết cách tháo gỡ, một quyết định còn nhiều phân vân, hay những nỗi niềm khó giãi bày, mỗi người lại có cách tìm kiếm lời khuyên riêng.
Sách “chữa lành” trong đời sống đức tin
Sách “chữa lành” trong đời sống đức tin
Bên cạnh những tựa sách kinh nguyện hay suy niệm, các nhà sách Công giáo hiện nay đã có nhiều tựa sách hướng đến những vấn đề rất đời thường của con người, từ tổn thương tinh thần, cảm giác lo âu, đến việc hiểu và chấp nhận bản thân,...
Đồng hành với những tổn thương trong tâm hồn
Đồng hành với những tổn thương trong tâm hồn
Có những nỗi đau không dễ gọi thành tên, ẩn sau những con người vẫn chu toàn công việc, chăm sóc gia đình hay miệt mài trong sứ vụ. Đó có thể là trầm cảm, lo âu, sang chấn tâm lý hoặc những khủng hoảng âm thầm không biết chia...
Lãnh đạo TPHCM thăm Tòa Giám mục Giáo phận Phú Cường
Lãnh đạo TPHCM thăm Tòa Giám mục Giáo phận Phú Cường
Ngày 27.10, đoàn công tác Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM do ông Nguyễn Phước Lộc, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM làm trưởng đoàn, đã đến thăm Đức cha Giuse Nguyễn Tấn Tước,...
Nhìn lại hành trình mở cõi qua những dấu tích từ tiền nhân
Nhìn lại hành trình mở cõi qua những dấu tích từ tiền nhân
Tọa đàm “Hiền Nhân Mở Cõi” diễn ra tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (số 2 Ter Lê Duẩn, phường Sài Gòn, TPHCM), trong khuôn khổ chuỗi hoạt động “Nếp nhà xưa: Mạch sống người Việt” do Trung tâm Lưu trữ quốc gia II phối hợp với Nếp...
Chính sách an sinh hướng đến người già neo đơn
Chính sách an sinh hướng đến người già neo đơn
Thủ tướng vừa ban hành kế hoạch thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế. Bên cạnh mô hình nhà xã hội dành cho người cao tuổi neo đơn, còn đề cập việc phát triển các điểm chăm sóc ban ngày, dịch vụ chăm sóc...
Từ “Nhật ký truyền giáo” đến “Lá rụng về cội”
Từ “Nhật ký truyền giáo” đến “Lá rụng về cội”
Những bài viết của linh mục Piô Ngô Phúc Hậu bắt đầu xuất hiện trên báo Công giáo và Dân tộc từ số 889, ra ngày 3.1.1993, với bài “Giáo xứ Capharnaum”, mở đầu mục Nhật ký truyền giáo. Các bài trong mục này được đăng hằng tuần, sau đó...
Dấu chân trên bước đường truyền giáo
Dấu chân trên bước đường truyền giáo
Sự ra đi của linh mục Piô Ngô Phúc Hậu để lại nhiều thương nhớ trong lòng những người từng gặp gỡ, cộng tác hay được nuôi dưỡng đức tin qua các trang sách của ngài.