Báo chí công giáo Việt Nam một hành trình thế kỷ

 

Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ để loan báo Tin Mừng Cứu Độ. (Mc 15, 16).

Mời gọi và lệnh truyền ấy, đến nay và mãi mãi về sau, vẫn cứ là bản chất bất biến của Hội Thánh, vẫn cứ là một sứ mạng thiêng liêng và chí cốt của mọi tín hữu.

Nói đến Loan Báo Tin Mừng hoặc Truyền Giáo, là nói đến các phương tiện truyền thông, để diễn tả và chuyển tải Tin Mừng. Trong đó, không thể không nói đến vai trò quan trọng và cần thiết của Báo Chí.  Đặc biệt ở thời bùng nổ thông tin ngày nay. Nghe và nhìn (đọc), tận mắt, tận tai.

 

Lịch sử gần 500 năm đạo Chúa vào Việt Nam - nếu tính từ 1533, khi giáo sĩ I-nê-khu lần đầu tiên đặt chân lên làng Trà Lũ, Nam Định - là lịch sử của một quá trình hội nhập, một quá trình cộng sinh và tiếp biến rất phong phú, đa dạng, tổng hợp các nguồn kinh nghiệm, cả trong rao giảng, lẫn trong đón nhận Tin Mừng. Có đầy đủ những gặp gỡ, mời chào, thân thiện, lạnh nhạt, hững hờ, vồn vã, làm quen và nhận họ nhận hàng. Nhưng cũng rất thực tế : Primum vivere, deinde philosophare - sống cái đã, bàn luận tính sau. Có viếng thăm, trao đổi, chuyện trò, phân giải, lý lẽ, hội luận, minh triết. Và cũng có đấy, nào bài bản, sách vở, kinh văn, giáo điều; nào lễ lạy, chiêm bái, phụng vụ, bí tích. Tắt một lời, vừa nhẹ nhàng, dân dã đi vào sinh hoạt, mùa vụ đời thường Việt Nam; đồng thời, vừa không kém phần trọng vọng, kinh điển, phép tắc theo quy định về huấn giáo và lễ nghi của Hội Thánh. Phải chăng, đây đã là một trong những truyền thống Đức Tin - Văn Hóa rất đặc thù đã in sâu vào đời sống của dân Chúa Việt Nam xuyên suốt dặm dài lịch sử truyền giáo? Mặc cho bao phen sóng gió, cấm cách, bách hại nghiệt ngã, truyền thống vững bền và hiệu quả ấy, không những không bị chao đảo, xói mòn; mà còn được cộng lại, nhân lên gấp bội. Xin mạn phép gọi đó là di sản đức tin - văn hóa của người Công giáo Việt Nam. Nó vừa là vật thể,  vừa là phi vật thể.  Nó vừa hiện ra ở dạng thành văn, lại vừa thấp thoáng, bàng bạc nơi tâm thức và ký ức của bao đời. Chúng tôi muốn nói đến các thể loại văn bản nhà đạo hoặc một thứ văn hóa đọc rất riêng và rất thiêng, đã nuôi sống dân Chúa Việt Nam, trải qua dòng thời gian. Ngạc nhiên chưa, đơn giản chỉ là những kinh sách, ngắm nguyện, ca vãn, truyện tích, bài giảng, lời rao, lịch phụng vụ Công giáo (những ngày lễ quanh năm) hoặc trân trọng hơn, là các Thư Chung (Thư Luân Lưu của các đấng bậc bản quyền trong Hội Thánh), hay các văn kiện, thư tịch… Liệu có cường điệu lắm chăng, khi tạm đưa ra nhận xét chủ quan này, rằng đó là đêm trước của hừng đông, là canh thức, lễ vọng của Chúa nhật Phục Sinh, cánh cửa lớn mở ra một dặm dài vượt ngưỡng hơn một trăm năm của lịch sử Báo chí Công giáo Việt Nam ?


Và rồi, một chương mới được mở ra…

Từ khi Quốc ngữ khẳng định được chỗ đứng và giá trị, đặc biệt từ khi báo chí Quốc ngữ với tờ Gia Định Báo ra đời (15.4.1865), thì đời sống văn hóa của người Việt mình bỗng nhiên khởi sắc, sinh động và cập nhật hẳn lên. Người ta không chịu thu mình mãi ở chốn thư phòng để tầm chương trích cú, để vịnh nguyệt ngâm hoa, để mộng du, hoang tưởng. Kìa, xem đường phố, quê thôn đang rộn rã những làng văn làng báo, những thư quán, xưởng in, nhà xuất bản; những bút nhóm, thi văn đoàn; những nhóm phóng viên, ký giả, tòa soạn, quầy báo; những hình ảnh, tin tức thời sự nóng bỏng, sầm uất, đông vui… Chính trong cái cuộc ra mắt bừng bừng khí thế ấy, Petrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898) rõ ràng là viên tướng chỉ huy, lĩnh ấn tiên phong, đặt cơ sở bước đầu vững chắc cho Văn Học Báo Chí, Nghề Báo và Làng Báo Quốc ngữ của Việt Nam ta. Cũng chính ở buổi giao thời rộn ràng và mới tinh ấy, riêng Công giáo - như có hẹn trước - đã góp mặt góp công rất sớm với một đội ngũ đông đảo những người cầm bút, tập hợp dưới trướng hàng loạt những cơ sở in ấn, xuất bản rất căn cơ, tiếng tăm, như Nazareth Hồng Kông, Kẻ Sở, Kẻ Sặt, Tân Định, Vĩnh Trị, Phú Nhai Đường, Ninh Phú, Trung Hòa, Qui Nhơn, Huế, Kon Tum, Mẫu Tâm, Vĩnh Long v. v.  Đặc biệt hơn cả, là vào ngày 26 tháng 11 năm 1908, ở Sài Gòn, tuần báo Nam Kỳ Địa Phận, cơ quan ngôn luận chính thức đầu tiên của Công giáo Việt Nam chào đời, mở ra một kỷ nguyên cho báo chí Công giáo Việt Nam. Đọc lại mấy hàng, Bổn Quán Kính Báo,  sau đây, ta càng thấm thía sứ vụ Loan Báo Tin Mừng của những con người cầm bút, hết lòng phục vụ công cuộc, Truyền Thông Công giáo, ngay từ buổi đầu gian nan ấy: “Vì lòng ái mộ danh Chúa cả sáng, cùng ước ao cho con cái nhà Annam ta mọi nơi đâu đó được đua nhau tấn tài tấn đức, cho thông phần đạo và ngoan việc đời. Nhựt trình này lập ra, có ý gieo tin lành trong vườn Hội Thánh, có ý cho gia đạo mọi người mọi nơi đều đặng nhờ ích lợi cho phần hồn phần xác mọi bề” (Nam Kỳ Địa Phận, số 1, 26. 11. 1908). Nói theo học giả Phạm Quỳnh - chủ biên của tờ Nam Phong Tạp Chí (1917-1934) - thời kỳ 1865-1908 quả là thời kỳ phôi thai của báo chí Việt Nam, và những người làm báo trong giai đoạn này có thể tự hào đã đóng vai trò của những nhà giáo dục quần chúng, những người hướng dẫn hay những sứ đồ. Người ta cũng đã đọc thấy nỗi trăn trở đầy bức xúc ấy trong chồng chất nỗi niềm khôn nguôi của danh sĩ Phaolô Nguyễn Trường Tộ (1830-1871), bậc thức giả Công giáo vốn nặng lòng ưu thời mẫn thế với cuộc canh tân đất nước - mà báo CGvDT vừa có một loạt bài khảo cứu trong những số vừa rồi - qua bản Trần Tình và Tế Cấp Bát Điều: “Cần ấn hành một tờ báo để đăng tải các chiếu chỉ, sớ dụ. những việc làm của các đấng bậc có tiếng tăm, những công vụ quốc gia hiện thời cho học sinh đọc để biết công việc trong nước. Đó cũng là một lợi ích lớn, lợi ích ấy rộng rãi như mưa móc thấm nhuần...”.

Đến nay, dặm đường thăm thẳm ấy, đã là một hành trình thế kỷ, đã vượt qua biên giới của bách niên chi kế, trải dài quá trăm năm và đã có nhiều, thật nhiều, hàng hàng lớp lớp người đi. Từ riêng rẽ, cá nhân đến tập thể, đoàn hội. Từ giáo xứ, họ đạo, giáo phận đến dòng tu, chủng viện. Báo chí Công giáo, đã có một thuở một thời bội thu, trăm hoa đua nở (1955-1975) ở Sài Gòn, miền đất trù phú được ưu đãi cho việc sinh sôi rất sớm của báo chí. Nhưng hỏi thật, mấy ai còn nhớ buổi đầu đời đơn lẻ, ngặt nghèo mà dũng cảm ấy của cả một thế hệ tiền bối, khai sơn phá thạch, mở lối chỉ đường cho hậu sinh chúng ta bây giờ, như Nam Kỳ Địa Phận (1908), Thánh Giáo Tuần Báo Bắc Kỳ (1920), Lời Thăm (1921), Trung Hòa (1923), Công Giáo Đồng Thinh (1927), Sacerdos Indonensis (1927), Chức Dịch Thơ Tín (1933), Thánh Thể Báo (1933), Đức Bà Hằng Cứu Giúp (1935, tiền thân của nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp), Đường Ngay (1936), Vì Chúa (1936), Đa Minh Bán Nguyệt San (1939), Tiếng Kêu (1947), Tông Đồ (1949), Thời Mới (1950), Thẳng Tiến (1957), Đức Mẹ La Vang (1958), Việt Tiến (1958), Trái Tim Đức Mẹ (1960), Sống Đạo (1962), Xây Dựng (1963), Thống Nhất (1954), Đường Sống (1955), Văn Đàn (1960), Lửa Mến (1963), Nhà Chúa (1967), Phụng Vụ (1970), Tinh Thần (1970),  Đối Diện (1969), Công giáo và Dân tộc (1975), Hiệp Thông (2001)... Đó là chưa kể sự xuất hiện hàng loạt và sôi nổi của các thể loại báo đọc trên mạng, báo điện tử, internet, các websites, bloggers, facebooks, youtubes chằng chịt, giăng mắc những năm gần đây…

Vâng, tất cả những sợi dây cáp quang thần kỳ ấy đã nối kết con người ở nhiều không gian, thời gian khác nhau quy về một mối, là ngôi Nhà Chung của Cha chúng ta có nhiều chỗ.

 

Francis Assisi Lê Đình Bảng

 

Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Biển xanh vỗ về tình bạn
Biển xanh vỗ về tình bạn
Một buổi chiều mùa hè, tôi ngồi trên bãi cát, hướng mắt ra đường chân trời xa tắp - nơi màu xanh của biển và bầu trời hòa lẫn làm một.
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Giữa mảng xanh rộng lớn của khuôn viên nhà thờ Thánh Tâm, giáo hạt Hố Nai, GP Xuân Lộc, có nhiều bức tượng lớn với gam màu sáng.
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nhà thờ Suối Tre (giáo phận Xuân Lộc) do kiến trúc sư người Pháp vẽ mẫu vào khoảng năm 1958. Công trình được thi công trong giai đoạn 1961-1963, sử dụng nhiều vật liệu nhập từ Pháp như khung sắt và chuông.
Biển xanh vỗ về tình bạn
Biển xanh vỗ về tình bạn
Một buổi chiều mùa hè, tôi ngồi trên bãi cát, hướng mắt ra đường chân trời xa tắp - nơi màu xanh của biển và bầu trời hòa lẫn làm một.
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Giữa mảng xanh rộng lớn của khuôn viên nhà thờ Thánh Tâm, giáo hạt Hố Nai, GP Xuân Lộc, có nhiều bức tượng lớn với gam màu sáng.
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nhà thờ Suối Tre (giáo phận Xuân Lộc) do kiến trúc sư người Pháp vẽ mẫu vào khoảng năm 1958. Công trình được thi công trong giai đoạn 1961-1963, sử dụng nhiều vật liệu nhập từ Pháp như khung sắt và chuông.
Thử nhìn bằng góc nhìn của người khác
Thử nhìn bằng góc nhìn của người khác
Hồi còn nhỏ, nhà tôi có một cái bàn gỗ đặt gần cửa sổ, trên bàn có đủ thứ đồ, khi thì tập sách của anh em tôi, lúc lại là mấy cái điều khiển tivi mà chúng tôi cầm nhầm từ phòng khách làm người lớn cứ đi phải...
Nhà thờ bên đập nước
Nhà thờ bên đập nước
Đập Tam Giang là một công trình thủy lợi, và là thắng cảnh đẹp thu hút nhiều du khách đến thăm vùng quê thuộc địa phận huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên (cũ). Đập này được xây dựng chắn ngang con sông Cái - là nơi 3 dòng sông được...
Đến và trở về với Chúa
Đến và trở về với Chúa
Tôi từng nghĩ mình hiểu thế nào là đứng trước nỗi đau của một người khác, cho đến ngày mẹ của một người bạn tôi qua đời. Nhớ lại những ngày đầu năm 2026, đó là lúc chúng tôi đang trong kỳ thi cuối năm ba đại học.
Thánh tích Mẹ Têrêsa Calcutta tại giáo xứ Thanh Đa
Thánh tích Mẹ Têrêsa Calcutta tại giáo xứ Thanh Đa
Giáo xứ Thanh Đa (TGP TPHCM) từng đón tiếp Mẹ Têrêsa Calcutta hai lần vào các năm 1993 và 1994. Hiện nay, nhà thờ lưu giữ nhiều thánh tích của Mẹ, như tóc, máu và mảnh áo.
Thanh Hóa chuyện xưa  dấu cũ
Thanh Hóa chuyện xưa dấu cũ
Có một đặc điểm chung của những ngôi nhà thờ cổ được xây dựng ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, là dù có mặt tiền theo kiểu truyền thống hay một phong cách nào đó của châu Âu, thì kết cấu bên trong...
Y Vân và ca khúc bất hủ về mẹ
Y Vân và ca khúc bất hủ về mẹ
Trong kho tàng âm nhạc (tân nhạc) Việt Nam, có thể nói ca khúc Lòng Mẹ của Y Vân là một tác phẩm bất hủ. Nhiều người ví von đó là một bản “quốc ca” về tình mẫu tử - không chỉ bởi giai điệu mượt mà, lời ca giàu...