Ðối chiếu kinh Hòa Bình của Công giáo với Thánh giáo Cao Đài

Xưa nay, các tôn giáo đều có một mục đích giống nhau là vạch cho con người một con đường thoát khổ. Tùy theo không gian địa lý và văn hóa bản địa của nơi xuất phát mỗi tôn giáo, mà mỗi đấng giáo chủ kiến tạo nên một con đường riêng để dẫn dắt cộng đồng dân chúng ở quê hương mình, trước khi tôn giáo ấy có thể dẫn dắt các dân tộc khác.

Các con đường hay các tôn giáo tuy có khác nhau, nhưng rồi sẽ dẫn con người về một đích điểm chung. Vào nhiều thế kỷ trước Công nguyên, chân lý này được minh định trong Kinh Dịch (Hệ Từ Hạ): “Đường tuy muôn nẻo, nhưng cũng về cùng một chỗ” (Thiên hạ đồng quy nhi thù đồ).

Chân lý “đồng quy nhi thù đồ” ngày nay cũng là chủ trương “vạn giáo đồng nguyên” hay “vạn giáo nhứt lý” của đạo Cao Đài, thể hiện tinh thần hòa đồng tôn giáo.

Để góp phần chứng minh rằng “vạn giáo nhứt lý”, có thể đối chiếu Kinh Hòa Bình của Công giáo với Thánh giáo Cao Đài.

Hinh bai Kinh Tin kinh.jpg (46 KB)
 “Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người”

Kinh Hòa Bình (hay Lời Kinh Đơn Sơ) được cho là do Thánh Phanxicô thành Assisi (1182-1226) sáng tác. Khi thế chiến thứ nhất bùng nổ (năm 1914), kinh Hòa Bình được chọn là một trong hai bài kinh trình lên Đức Giáo Hoàng để các tín hữu châu Âu cầu nguyện cho chiến tranh chấm dứt. Bản văn bằng tiếng Ý được đăng ngay trang đầu tờ L’Osservatore Romano là nhật báo của Tòa Thánh Vatican, số ra ngày 20.1.1916.

Kinh Hòa Bình ảnh hưởng rất lớn đối với những nhà hoạt động tôn giáo và chính trị. Mẹ Têrêsa Calcutta xin mọi người đọc kinh Hòa Bình trong dịp Mẹ nhận giải Nobel Hòa Bình tại Oslo (Na Uy) năm 1979. Mẹ cho biết trong dòng Thừa Sai Bác Ái của Mẹ, kinh này được đọc mỗi ngày sau khi rước lễ. Bà Margaret Thatcher (nước Anh) đã trích kinh Hòa Bình đem vào bài diễn văn nhậm chức thủ tướng (ngày 4.5.1979). Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton trích kinh Hòa Bình đem vào bài diễn văn chào mừng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tại phi trường New York (năm 1995).

Tại Việt Nam, năm 1960, một chủng sinh Đại Chủng viện mới 20 tuổi đã căn cứ theo bản dịch tiếng Việt của Đức Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền, soạn thành bài thánh ca Kinh Hòa Bình bất hủ. Vị chủng sinh ấy sau này là linh mục nhạc sư Phêrô Nguyễn Kim Long. Kể từ năm 2011, với Hội Ngộ Liên Tôn lần I tại Trung tâm Mục vụ Tổng Giáo phận TPHCM, liên tục cho tới nay, kinh Hòa Bình mặc nhiên trở thành bản thánh ca mang tính nghi thức trước khi bế mạc sự kiện Liên Tôn ngày 27.10 hằng năm.

Lời thánh ca kinh Hòa Bình như sau:

“Lạy Chúa từ nhân! Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm; để con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng; để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu.

Lạy Chúa, xin hãy dạy con tìm an ủi người hơn được người ủi an; tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết; tìm yêu mến người hơn được người mến yêu. Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh; chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân; vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ; chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.

Ôi! Thần Linh thánh ái, xin mở rộng lòng con; xin thương ban xuống những ai lòng đầy thiện chí ơn an bình”.

Đối chiếu Thánh ca (KHB) dẫn trên với Thánh giáo Cao Đài (CĐ), có nhiều tương đồng:

1. KHB: “Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người”.

CĐ: “Thượng Đế không bảo chúng sinh làm những gì đem đến ích lợi riêng tư cho Thượng Đế và các Đấng Trọn Lành; chỉ dạy bảo chúng sanh phải làm mọi việc thích hợp đạo lý để phục vụ nhơn sanh hầu tạo cõi đời an lạc thái hòa, trong đó có đạo đức tình thương giữa con người và con người đối xử với nhau cho phải đạo để giúp cơ bảo tồn vạn loại cho hợp với đức háo sanh của Thượng Đế mà thôi” (Đức Đông Phương Chưởng Quản, Trúc Lâm Thiền Điện, 30.8.1969).

CĐ: “Nhớ rằng không phải hiến dâng cho Thượng Đế nhé! Thượng Đế không bảo ai hiến dâng những gì cho Ngài. Ngài vì nguyên căn, vì nhân loại mà khai Đạo cứu rỗi, dạy bảo con người phải hiến dâng cho nhau để tạo cảnh thiên đàng tại thế gian” (Đức Cao Triều Phát, Thánh tịnh Ngọc Minh Đài, 20.8.1969).

2. KHB: “Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm”.

CĐ: “Chỗ nào tối, người Thanh Thiếu Niên Phổ Thông Giáo Lý thắp ngọn đuốc sáng. Chỗ nào hầm hố chông gai, có người Thanh Thiếu Niên Phổ Thông Giáo Lý kiêu dũng đem đạo đức đến san bằng. Chỗ nào lạnh lùng băng giá, người Thanh Thiếu Niên Phổ Thông Giáo Lý đem tình thương Thượng Đế đến sưởi hâm ấm áp. Chỗ nào nóng bức, có người Thanh Thiếu Niên Phổ Thông Giáo Lý đem tình nhân loại đến dập tắt dịu dàng” (Đức Cao Triều Phát, Thánh tịnh Ngọc Minh Đài, 8.2.1967).

3. KHB: “Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh”.

CĐ: “Các con lo cho đời, cho chúng sanh, nhân quần xã hội, đem lại nguồn an ủi tinh thần cho họ, đem lại sự cơm no áo ấm, nhà ở, trường học, bịnh viện... Đó là nguồn hạnh phúc cho họ, mà chính là hạnh phúc của các con đó, vẫn vĩnh cửu, trường tồn, mưa không lạt, nắng không phai, trộm không cắp, cướp không giựt, lửa không cháy, phong ba bão táp không hề hấn gì” (Đức Diêu Trì Kim Mẫu, Thánh Tòa Vô Vi Huỳnh Quang Sắc, 5.2.1965).

CĐ: “Con tu là để giúp đời/ Giúp đời chính thị giúp thời cho con” (Đức Diêu Trì Kim Mẫu, Chơn Lý Đàn, 28-02-1973).

4. KHB: “Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ”.

CĐ: “Hằng ngày mình thường ước mong kẻ khác giúp đỡ phương tiện sinh kế, nâng đỡ con cái học hành, để lời dịu ngọt đối xử với mình, cùng mong Thượng Đế tha thứ tội lỗi và ban ơn cho mình. Hãy lấy tất cả sự ấy ban bố và đối xử với kẻ khác” (Đức Giáo Tông Đại Đạo Thái Bạch Kim Tinh, Thánh tịnh Ngọc Minh Đài, 3.3.1969).

CĐ: “Một khi biết cầu khẩn Đấng Chí Tôn tha thứ lỗi lầm của mình, thì mình hãy thể theo lòng từ ái của Ngài để tha thứ anh em chị em của mình tại thế gian, vì thế gian không phải là một cõi hoàn toàn thánh thiện, nên lắm điều còn ô trược, tránh sao những vấp phải lỗi lầm hoặc nhiều hay ít cũng vậy” (Đức Đông Phương Chưởng Quản, Trúc Lâm Thiền Điện, 18.8.1970).

5. KHB: “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.

CĐ: “Ráng tu cho vẹn đạo làm người/ Tự độ, độ tha khắp mọi nơi/ Hiện kiếp cho ra người đức hạnh/ Vị lai kiếp sẽ ngự cung Trời” (Đức Vạn Hạnh Thiền Sư, Minh Lý Thánh Hội, 26.8.1972).

CĐ: “Hỡi con trẻ lo âu vun quén/ Kíp lo tu, đừng hẹn nay mai/ Đạo đời cùng gánh hai vai/ Dầu cho có thác, ngày mai đi về” (Đức Diêu Trì Kim Mẫu, Thánh tịnh Kim Thành Long, 22.3.1973).

“Ngày mai đi về” tức là khi chết thì con người sẽ trở về một nơi chốn mà người đạo Cao Đài gọi là “cõi thiêng liêng hằng sống”, và kinh Hòa Bình gọi là nơi “vui sống muôn đời”.

DIỆU NGUYÊN

 

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Biển xanh vỗ về tình bạn
Biển xanh vỗ về tình bạn
Một buổi chiều mùa hè, tôi ngồi trên bãi cát, hướng mắt ra đường chân trời xa tắp - nơi màu xanh của biển và bầu trời hòa lẫn làm một.
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Giữa mảng xanh rộng lớn của khuôn viên nhà thờ Thánh Tâm, giáo hạt Hố Nai, GP Xuân Lộc, có nhiều bức tượng lớn với gam màu sáng.
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nhà thờ Suối Tre (giáo phận Xuân Lộc) do kiến trúc sư người Pháp vẽ mẫu vào khoảng năm 1958. Công trình được thi công trong giai đoạn 1961-1963, sử dụng nhiều vật liệu nhập từ Pháp như khung sắt và chuông.
Biển xanh vỗ về tình bạn
Biển xanh vỗ về tình bạn
Một buổi chiều mùa hè, tôi ngồi trên bãi cát, hướng mắt ra đường chân trời xa tắp - nơi màu xanh của biển và bầu trời hòa lẫn làm một.
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Giữa mảng xanh rộng lớn của khuôn viên nhà thờ Thánh Tâm, giáo hạt Hố Nai, GP Xuân Lộc, có nhiều bức tượng lớn với gam màu sáng.
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nhà thờ Suối Tre (giáo phận Xuân Lộc) do kiến trúc sư người Pháp vẽ mẫu vào khoảng năm 1958. Công trình được thi công trong giai đoạn 1961-1963, sử dụng nhiều vật liệu nhập từ Pháp như khung sắt và chuông.
Thử nhìn bằng góc nhìn của người khác
Thử nhìn bằng góc nhìn của người khác
Hồi còn nhỏ, nhà tôi có một cái bàn gỗ đặt gần cửa sổ, trên bàn có đủ thứ đồ, khi thì tập sách của anh em tôi, lúc lại là mấy cái điều khiển tivi mà chúng tôi cầm nhầm từ phòng khách làm người lớn cứ đi phải...
Nhà thờ bên đập nước
Nhà thờ bên đập nước
Đập Tam Giang là một công trình thủy lợi, và là thắng cảnh đẹp thu hút nhiều du khách đến thăm vùng quê thuộc địa phận huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên (cũ). Đập này được xây dựng chắn ngang con sông Cái - là nơi 3 dòng sông được...
Đến và trở về với Chúa
Đến và trở về với Chúa
Tôi từng nghĩ mình hiểu thế nào là đứng trước nỗi đau của một người khác, cho đến ngày mẹ của một người bạn tôi qua đời. Nhớ lại những ngày đầu năm 2026, đó là lúc chúng tôi đang trong kỳ thi cuối năm ba đại học.
Thánh tích Mẹ Têrêsa Calcutta tại giáo xứ Thanh Đa
Thánh tích Mẹ Têrêsa Calcutta tại giáo xứ Thanh Đa
Giáo xứ Thanh Đa (TGP TPHCM) từng đón tiếp Mẹ Têrêsa Calcutta hai lần vào các năm 1993 và 1994. Hiện nay, nhà thờ lưu giữ nhiều thánh tích của Mẹ, như tóc, máu và mảnh áo.
Thanh Hóa chuyện xưa  dấu cũ
Thanh Hóa chuyện xưa dấu cũ
Có một đặc điểm chung của những ngôi nhà thờ cổ được xây dựng ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, là dù có mặt tiền theo kiểu truyền thống hay một phong cách nào đó của châu Âu, thì kết cấu bên trong...
Y Vân và ca khúc bất hủ về mẹ
Y Vân và ca khúc bất hủ về mẹ
Trong kho tàng âm nhạc (tân nhạc) Việt Nam, có thể nói ca khúc Lòng Mẹ của Y Vân là một tác phẩm bất hủ. Nhiều người ví von đó là một bản “quốc ca” về tình mẫu tử - không chỉ bởi giai điệu mượt mà, lời ca giàu...