ĐI TÌM TÁC GIẢ CỦA BÀI INÊ TỬ ĐẠO VÃN
Về nhịp điệu của bài vãn theo cấu trúc gọi là “lục bát” đã được tạo ra theo cách này: hai âm bình kế sau là hai âm trắc và tiếp theo hai âm bình (BB-TT-BB). Một sự dung sai cũng cho phép nhấn mạnh âm vần thứ nhất, thứ ba và thứ năm một cách không đáng kể. Tuy nhiên, trong các bài thơ ở giai đoạn trước kiệt tác của Nguyễn Du, những quy tắc này không phải lúc nào cũng được tôn trọng, chẳng hạn câu thơ sau đây trích từ truyện ngụ ngôn “Truyện Trê Cóc”: Được kiện cóc trở ra về, thì trong bài vãn về bà Anê: Này đoạn trong ngục đã chày (482).

Các từ kiện và đoạn là từ mang âm không chuẩn theo cấu trúc, nên chúng có thể được thay thế bằng các từ có âm bình nếu chúng ta muốn giữ quy tắc âm điệu thông thường; cũng có thể rút ra kết luận tương tự bằng cách xem xét sơ đồ vần. Theo cái gọi là vần “lục bát”, từ cuối của câu lục phải vần với từ thứ sáu của câu bát tiếp theo. Từ quy tắc này, được áp dụng chặt chẽ trong kiệt tác của Nguyễn Du, suy ra rằng câu bát có hai vần, một vần được gọi là yêu vận, vần còn lại ở cuối dòng được gọi là cước vận. Quy tắc này không được áp dụng chặt chẽ trong các bài vãn giai đoạn trước tiểu thuyết Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du. Trong câu đối của Tứ thời khúc vịnh (Thơ biến tấu về Bốn mùa) của Hoàng Sĩ Khải - người nhận bằng tiến sĩ năm 1544 - phụ âm được đặt ở vần thứ tư chứ không phải ở vần thứ sáu: Đông thì tin lệnh mùa đông/ Đã có lạnh lùng lại có dương xuân. Những trường hợp giống hệt nhau về sự dịch chuyển âm phụ được ghi nhận trong vãn về Anê: Vợ hiệu Sa ve là tên/ Giai lão kết nguyền, đạo đức kính tin (9-10); Táng cha thôi mới khởi trình/ Mọi nỗi tâm tình dặn bảo I-nê (75-76).
Cuối cùng, từ “vãn” gắn liền với nhan đề bài vãn cho thấy nguồn gốc Đàng Trong của tác giả và thuộc cộng đoàn Công giáo. Trong văn chương truyền khẩu, các câu chuyện bằng thơ được gọi là “vè” hoặc “vãn” không nhất thiết được viết theo nhịp thơ được gọi là “lục bát”. Đào Duy Từ (1572-1634) đã làm cho thể loại thơ truyền khẩu này trở nên cao quý với các bài vãn Ngọa long cương vãn (Bài ca trên đồi rồng nằm) và Tư Dung vãn (Bài ca ở cảng Tư Dung), được sáng tác hoàn toàn theo nhịp thơ được gọi là “lục bát”. Bài vãn đầu tiên, dài 136 câu, là một tác phẩm trữ tình mà ông sáng tác khi còn là một người chăn trâu ở làng Tùng Châu, phủ Hoài Nhơn, nay là huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, trước khi ông phục vụ cho các chúa Nguyễn. Bài vãn thứ hai, dài 336 câu, ca ngợi vẻ đẹp kỳ diệu của cảng Tư Dung, nay là cảng Tư Hiền, Huế.
Trong văn học Công giáo Việt Nam, đôi khi vãn là những bài thánh ca đạo đức bình dân tôn vinh Đức Trinh Nữ (Vãn Đức Bà), đôi khi là những bài vãn tự sự dài. Các học giả, đặc biệt là những người ở miền Bắc, ít chuộng thuật ngữ vãn, nhưng chuộng thuật ngữ truyện có nguồn gốc học thuật. Các chuyên luận về thơ ca nghiên cứu cụ thể về thể loại vãn là tác phẩm của những người Công giáo. Đó là Compendium versificationis anamiticae - Lược bày niêm luật làm vãn làm thơ của Đức Giám mục Taberd và Văn chương Annam - Litérature Annamite của Đức Giám mục Hồ Ngọc Cẩn. Cần lưu ý rằng thể lục bát với sự hoàn hảo là kết quả của một quá trình tiến triển lâu dài.
3. Xác định thời điểm sáng tác bài vãn
Từ những điều trên, chúng ta thấy rằng bài vãn phải được sáng tác vào thế kỷ 18. Nếu người ca ngợi sự tử đạo của Anê thuộc thế hệ thế kỷ 19, tác giả sẽ không đề cập trong tác phẩm của mình những địa danh đã biến mất khỏi danh pháp địa lý và hành chánh chính thức, và dĩ nhiên cũng không có trong ngôn ngữ của đời sống cư dân, cụ thể là các địa danh Diên Ninh và Bình Khương (Bình Khang), bị thay đổi lần lượt vào năm 1742 và 1803, và danh hiệu trấn thủ (nhà cầm quyền một trấn), chỉ được sử dụng cho đến năm 1832. Thực tế, trong bài vãn có viết rằng cha của Anê, được gọi là Charles, trong tôn giáo (tiếng Việt: Carôlô), xuất thân từ phủ Diên Ninh và thi hài của ông đã được đưa về đây để an táng: Ca rô lô hiệu là người/ Diên Ninh ấy phủ, nhà nơi Lâm Tuyền (câu 7-8); Sáu người huynh đệ mới toan/ Đồng Nai tới rước tài quan đam về/ Dần dà cõi nọ xứ kia/ Rước đặng đam về nơi phủ Diên Ninh (câu 71-74). Mặt khác, sau tang lễ, cha Laurent (tiếng Việt là Loren) rời khỏi nhà cha mình và đi thi hành sứ vụ ở vùng Bình Khương: Anê bịn rịn dùng dằng/ Loren từ giã phăng phăng lại dời/ Bình Khương vừa đến nghỉ ngơi (câu 99-101).
(còn nữa)
1 Hoàng Xuân Hãn và Nghiêm Toản, Thi văn Viêt Nam, Sông Nhị, Hà nội 1951, trang 149.
2 J.L. TABERD, Dictionarium anamitico-latinum, Nxb. Văn Học, 2018, trang 41-48.
3 R.P. DOMINIQUE HỒ NGỌC CẨN, Văn chương An Nam, Imprimerie de la Société des Missions Étrangères, Hongkong 1933, trang 81-92.
Lm Gioan VÕ ĐÌNH ĐỆ
Bình luận