ĐI TÌM TÁC GIẢ CỦA BÀI INÊ TỬ ĐẠO VÃN
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí: “Bản triều, năm Quý Tỵ Thái Tông thứ 5 (Nguyễn Phúc Tần - 1653), vua Chiêm Thành là Bà Bật lấn biên giới, bản triều sai Cai cơ Hùng Lộc Hầu (không rõ tên họ) đi đánh. Người Chiêm hàng, do đấy chiếm lấy đất từ sông Phan Rang trở về phía đông đến địa giới Phú Yên, đặt 2 phủ (Thái Khang và Diên Ninh) và 5 huyện (Thái Khang lãnh 2 huyện Quảng Phúc và Tân Định, Diên Ninh lãnh 3 huyện Phúc Điền, Vĩnh Xương Hoa Châu); lại đặt dinh Thái Khang. Năm Canh Ngọ Anh Tông thứ 3 (1690), đổi phủ Thái Khang làm phủ Bình Khang. Năm Nhâm Tuất Thế Tông thứ 4 (1742), đổi phủ Diên Ninh làm phủ Diên Khánh, lại đem đất 2 phủ Bình Khang và Diên Khánh đặt dinh Bình Khang. Năm Quý Tỵ Duệ Tông thứ 9 (1773) bị Tây Sơn chiếm cứ. Năm Quý Sửu (1783) Thế Tổ Cao Hoàng Đế lấy lại được đất này, lại gọi là dinh Bình Khang, đặt các chức lưu thủ, cai bạ và ký lục, lại đắp thành Diên Khánh, sai đại thần trấn thủ. Năm Gia Long thứ 2 (1803) đổi dinh Bình Khang làm dinh Bình Hòa, đổi phủ Bình Khang làm phủ Bình Hòa. Năm thứ 7, đổi dinh Bình Hòa làm trấn Bình Hòa. Năm Minh Mệnh thứ 12, đổi phủ Bình Hòa làm phủ Ninh Hòa. Năm thứ 13 chia tỉnh hạt gọi là tỉnh Khánh Hòa; đặt hai ty bố chánh, án sát, dưới quyền tuần phủ Thuận - Khánh, lại gồm huyện Hoa Châu vào huyện Phúc Điền. Nay lãnh 2 phủ, 4 huyện”.

Những chỉ dẫn từ dữ liệu lịch sử vùng đất này cho thấy sự trùng khớp tên gọi hành chính được đề cập trong bài vãn. Tác giả chỉ rõ rằng phiên tòa xét xử bà Anê được quyết định theo lệnh của một vị quan gọi là trấn thủ (nhà cầm quyền một trấn), và được hỗ trợ bởi một vị quan tòa gọi là Ông Nghè (nghĩa đen là Tiến sĩ, một danh hiệu dành riêng cho các quan lại dân sự có học thức): Lên Dinh trấn thủ chường thưa/ Trạng Bày sau trước, trình thưa cáo rằng (câu 115-116)/ Ông nghè mới hỏi vân vi (141)/ Quan trên trấn thủ truyền ra/ Ông nghè mới dạy chớ tha loài này (356-357).
Trước cuộc cải cách hành chính do vua Minh Mệnh ban hành, chức Trấn thủ được hỗ trợ bởi hai vị quan, lần lượt là Cai bạ (người kiểm soát sổ địa chính) và Ký lục (người phụ trách thư ký). Tổ chức này được chính thức thiết lập vào năm 1744 bởi chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765). Dưới thời Tây Sơn (1788-1802), Trấn thủ được tăng cường bởi một Hiệp trấn (phó quan trấn thủ). Dưới triều vua Gia Long (1802-1820) và cho đến năm 1832 dưới triều vua Minh Mệnh (1820-1840), Trấn thủ còn được gọi là Lưu trấn (chức quan trông coi trấn biên cương) và được hỗ trợ bởi một Cai bạ và một Ký lục như thời các chúa Nguyễn.
Chúng ta còn phải xác định vị quan tòa được gọi là Ông nghè trong bài vãn. Trong tác phẩm Người chứng thứ nhất (Vị Tử Đạo Đầu Tiên), tác giả Phạm Đình Khiêm đã chứng minh một cách hoàn hảo rằng, vị quan được cha Alexandre de Rhodes gọi là “Onghebo” và chịu trách nhiệm về việc kết án Thầy giảng Anrê Phú Yên năm 1644 chính là Cai bạ, phó thứ nhất của thống đốc Quảng Nam. Lập luận của ông Phạm Đình Khiêm có giá trị tương tự đối với trường hợp Ông nghè, người đã kết án bà Anê chết đói vào năm 1700.
Cách viết “Ông nghè” được thay đổi tùy theo cách ký âm mà các nhà truyền giáo đã tạo ra hoặc áp dụng: Cha Christoforo Borri, (1583-1632), người đã sống tại Cư sở Nước Mặn, Đàng Trong, từ năm 1618 đến năm 1622, ký âm “Omgne”; Cha Alexandre de Rhodes, người đã chứng kiến tận mắt cuộc tử đạo của Thầy giảng Anrê Phú Yên, ký âm “Ounghé, Onghebo”; còn “Oũ nghe Bo” là ký âm của cha Philippe Bỉnh, Dòng Tên, người Việt Nam, vào năm 1822, người đã biên soạn quyển lịch sử quý giá về Việt Nam có tựa đề Truyện nước Annam Đàng Ngoài chí Đàng Trão (Trong), trong thời gian cha ở tại Lisbon. Vì Cai bạ cũng được phát âm là Cai bộ, và thông tin do cha Alexandre de Rhodes cung cấp cho thấy rằng đó không phải là Trấn thủ hay Ký lục, mà chính Cai bạ, nhân vật chính thứ hai của Dinh Quảng Nam, nhân danh Trấn thủ và thay cho Ký lục đã chủ tọa phiên tòa xét xử Thầy Anrê Phú Yên.
Trở lại với bài vãn, chúng ta có thể kết luận tác giả đã dùng danh xưng Ông nghè, thịnh hành thời bấy giờ, để chỉ Cai bạ, người thực hiện chức năng thẩm phán theo lệnh của Trấn thủ. Việc xem xét các danh xưng chính thức này và các địa danh Diên Ninh và Bình Khang cho phép xác định được giai đoạn sáng tác của bài vãn. Giai đoạn từ cuộc bách hại năm 1700 đến việc đổi tên Bình Khang thành Bình Hòa năm 1803.
___________________________
1 Quốc sử Quán, Đại Nam Nhất Thống Chí, Viện sử học, tập 3, tái bản lần thứ hai, Thuận Hóa 2006, trang 102-105
2 Xem TRẦN THANH TÂM, Tìm hiểu Quan chức nhà Nguyễn, tái bản lần thứ nhất, Thuận Hóa 1996.
3 ADRIEN LAUNAY, Histoire de la mission de Cochinchine, Paris 2000, T.I, trang 480.
Lm Gioan VÕ ĐÌNH ĐỆ
Bình luận