2. Đền thánh Phaolô Nguyễn Ngân - ngôi nhà thờ “trong Á ngoài Âu”
Có một đặc điểm chung của những ngôi nhà thờ cổ được xây dựng ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, là dù có mặt tiền theo kiểu truyền thống hay một phong cách nào đó của châu Âu, thì kết cấu bên trong cũng bằng gỗ. Đặc điểm này có lẽ đã được hình thành dựa trên sự thích nghi với điều kiện và kỹ thuật xây dựng tại địa phương vào thời điểm đó, tạo nên những pha trộn văn hóa đầy thú vị. Một trong những ví dụ điển hình của kiểu kiến trúc “trong Á ngoài Âu” là Đền thánh Phaolô Nguyễn Ngân ở xã Định Hòa, tỉnh Thanh Hóa. Đền thánh hiện nay đang được họ Cự Khánh thuộc giáo xứ Yên Khánh coi sóc.
2.1 Thánh Phaolô Nguyễn Ngân
Ngã ba Bông, nơi sông Mã chia nước cho sông Lèn, từ lâu vẫn được ví von rằng “một tiếng gà gáy sáu huyện nghe”, vì là vùng giáp ranh của các huyện Hà Trung, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Thiệu Hóa, Yên Định và Vĩnh Lộc trước đây. Vùng đất này nằm giữa những ngã sông, lại được bao quanh bởi các cụm núi thấp, thuận lợi cho việc định cư lâu dài, nên từ xưa đã hình thành làng xóm và phát triển một trung tâm tín ngưỡng dân gian. Ở đây có đền Cô Bơ, là nơi phát tích của tín ngưỡng thờ Mẫu Đệ Tam (Mẫu Thoải), Đền Hàn Sơn, Phủ Cẩm và nhiều đền, chùa, phủ, miếu khác. Chính tại nơi được núi chở che, được sông nuôi dưỡng, dồi dào văn hóa đó, đức tin Công giáo đã bén rễ, nảy mầm và trổ sinh hoa trái. Tiêu biểu là thánh Phaolô Nguyễn Ngân, một người con của giáo họ Cự Khánh. Trước đây, giáo họ thuộc xứ Kẻ Bền. Đến năm 2007 thì Cự Khánh cùng các giáo họ Yên Giáo, Yên Khang, Duệ Thôn và Phú Ninh được tách ra thành lập xứ Yên Khánh.
Về năm sinh của thánh nhân thì có nguồn ghi năm 1771, nguồn khác lại để là 1790. Căn cứ vào việc ngài từng học chung với thánh Giuse Nguyễn Đình Nghi (1793-1840) tại chủng viện thì mốc 1790 có vẻ hợp lý hơn. Hơn nữa, nếu ngài sinh vào năm 1771 thì đến năm tử đạo 1840 đã 69 tuổi, không thể nào có vẻ ngoài của một người đàn ông trung niên như các ảnh tượng thường thấy.
Sau khi được thụ phong linh mục, thánh nhân đã từng làm phó xứ Phúc Nhạc (giáo phận Phát Diệm) trước khi lâm trọng bệnh, phải về tịnh dưỡng ở Kẻ Vĩnh (nay là giáo xứ Vĩnh Trị, TGP Hà Nội). Sau 7 năm dưỡng bệnh, ngài được bài sai làm phó xứ Kẻ Trình (nay là giáo xứ Trình Xuyên, TGP Hà Nội), rồi phó xứ Kẻ Báng (nay là giáo xứ Xuân Bảng, TGP Hà Nội). Tại Kẻ Báng, ngài cùng người đồng môn là thánh Giuse Nghi đã chăm lo đời sống đức tin cho các tín hữu trong thời kỳ cấm đạo dưới triều vua Minh Mạng. Tuy có phần nhút nhát, khiếp sợ khi nghe tin bắt bớ, nhưng đến khi chính mình bị bắt thì thánh Phaolô Ngân đã dũng cảm đón nhận phúc tử tạo. Theo các nhân chứng kể lại thì một lý trưởng phạm tội bị giam ở Nam Định đã xin với quan tổng trấn lúc bấy giờ là Trịnh Quang Khanh đến dò xét Kẻ Báng, tìm kiếm tung tích các đạo trưởng Gia-tô (linh mục Công giáo) để đoái công chuộc tội. Kẻ Báng lúc bấy giờ là một làng đông giáo dân, thường xuyên nuôi giấu các linh mục. Sau ba tháng thám thính, người lý trưởng ấy đã về trình báo cho quan tổng trấn về việc trong làng này có đạo trưởng Nam, tức là các linh mục người Việt. Nhận tin, tổng đốc Trịnh Quang Khanh và quan phủ Thiện Bản liền đem 1000 quân và rất nhiều dân hàng tổng đến vây làng Kẻ Báng.
Ngay từ sáng tinh mơ, quan đã truyền thổi loa, bắt dân làng ra điểm danh, lệnh cho các đội từng 10 lính đi lục soát cả làng. Nam giới từ 15 tuổi trở lên đều bị trói ngoài sân đình. Quan quân khám cả ngày hôm ấy mà không bắt được một linh mục nào và cũng chẳng tìm thấy đồ lễ. Khi ấy, viên lý trưởng do thám thưa rằng: “Xin quan lớn bao vây đủ ba ngày, lục soát làng Kẻ Báng cho kỹ lưỡng, nếu không bắt được đạo trưởng thì tôi xin chịu tội”. Quan thấy lý trưởng quả quyết như vậy thì cho đóng binh ngoài làng để hôm sau tiếp tục khám xét. Tối hôm ấy, các linh mục đã có cơ hội trốn đi nhưng thánh Giuse Nghi không đành lòng bỏ đoàn chiên ở lại trong cơn hoạn nạn nên đã quyết tâm ở lại, tuân theo thánh ý Chúa.
Sang ngày thứ hai, khi trời đã sáng rõ, quân lính bắt được cha Giuse Nghi ở nhà bà Duyễn. Đến quá trưa thì cha Giuse Ngân bị bắt ở nhà ông Thọ. Tại Kẻ Báng lúc bấy giờ còn có cha Martinô Tạ Đức Thịnh - linh mục xứ Trình Xuyên đang dưỡng bệnh tại nhà ông Chiền. Quân lính qua lại thấy ngài là một lão già bệnh tật thì tránh xa và không nghi ngờ. Đôi khi có người hỏi thì ngài giả điếc không thưa, chỉ có chị Thanh là nữ tu Dòng Mến Thánh Giá đáp: “Ông này là bố tôi”. Thực lòng cha Martinô Thịnh không muốn mình bị bắt, vì như thế những người đã đón tiếp và chăm sóc cho ngài sẽ gặp họa. Đến khi hay tin cha Giuse Nghi và cha Phaolô Ngân đã bị bắt thì ngài không muốn trốn tránh nữa.
Đến ngày thứ ba, một ông cai đội vào nhà ông Chiền hỏi ngài có phải là đạo trưởng không. Ngài nhận ngay, cai đội liền sai lính khiêng ngài đến chỗ quan tổng đốc. Quan thấy ngài già yếu nên bảo quá khóa (bước qua Thánh Giá) đi rồi tha nhưng ngài không chịu. Vậy là cả ba cha và khoảng 20 người làng Kẻ Báng bị giải xuống Nam Định, giam trong trại Lá, còn gọi là trại Quan Thượng. Hôm ấy là ngày 31.5.1840 (nhằm ngày 1 tháng 5 năm Minh Mạng thứ 21).
Cả ba bị đòi ra công đường nhiều lần, chịu đòn roi nhưng không chịu bỏ đạo. Quan tổng trấn thấy không lay động được thì làm án trảm quyết, trình vào kinh cho vua Minh Mạng, vua châu phê y án. Ngày 08.11.1840 (rằm tháng 10 năm Minh Mạng thứ 21), ba cha Giuse Nguyễn Đình Nghi, Phaolô Nguyễn Ngân, Martinô Tạ Đức Thịnh cùng hai giáo dân tên Thọ và Cỏn là những người đã nuôi giấu linh mục bị xử tử tại pháp trường Bảy Mẫu. Dân chúng kéo đến xem rất đông. Mặc dù bị lính đánh đập, người ta vẫn xông vào lấy khăn, áo… để thấm máu các ngài. Thi hài của hai cha Giuse Nghi và Phaolô Ngân được thầy Sự đem về an táng trong nhà thờ Kẻ Báng. Còn thi hài cha Martinô Thịnh được giáo dân họ Vũ Điện đem về mai táng trong nhà thờ giáo họ (nay là Giáo xứ Vũ Điện, TGP Hà Nội).
2.2 Ngôi nhà thờ “trong Á ngoài Âu”
Giữa vùng đất có nhiều công trình kiến trúc Á Đông, Đền thánh Phaolô Nguyễn Ngân vươn lên như một cột mốc đánh dấu sự hiện diện của đức tin Công giáo. Khác biệt nhưng không tách rời khỏi vốn văn hóa của dân tộc, công trình này vẫn mang trong mình kết cấu gỗ truyền thống và những đường nét gần gũi với người Việt.
Được xây dựng năm 1923, trải qua nhiều đợt trùng tu, Đền thánh hiện nay đã không còn nguyên dáng vẻ ban đầu, nhưng qua từng đường nét, chúng ta vẫn có thể thấy được tâm ý của tiền nhân. Mặt tiền được xây dựng theo phong cách Phục Hưng với một ngọn tháp lớn ở trung tâm. Một số đường nét uốn lượn nối tháp với phần dưới của mặt tiền có hơi hướng Baroque, nhưng về mặt tổng thể thì phong cách Phục Hưng vẫn chiếm ưu thế với những vòm cung tròn kiểu Romanesque, cột Corinthian, tỷ lệ hài hòa và hình khối mạch lạc. Sự pha trộn nhẹ này có lẽ là do tháp không được xây dựng ngay từ đầu mà bổ sung vào năm 1958. Tháp có 3 tầng, tầng dưới tiếp giáp với mái Đền thánh hình trụ vuông, tầng giữa hình trụ lục giác và tầng trên hình chóp lục giác. Trên đỉnh tháp có một cây thánh giá lớn như vẫn thường thấy ở các nhà thờ. Dọc theo thân tháp là các những ô cửa sổ lá xách dài và hẹp có vai trò thông gió. Riêng mặt tiền tầng dưới có một ô cửa sổ hoa hồng, hai bên là hai ô cửa giả trang trí. Thánh giá, chim bồ câu, fleur-de-lys và những cành lá uốn lượn xuất hiện nhiều trên mặt tháp. Xung quanh tầng trên là hình ảnh thánh giá và fleur-de-lys xếp xen kẽ nhau, tạo thành một hàng rào bao quanh chóp. Đặc biệt, ngay dưới đó là một đường viền hình chữ vạn - swastika (hay còn gọi là chữ thập ngoặc).
Ở Việt Nam, hoa văn này vốn thường thấy trong các công trình Phật giáo. Dầu vậy, vốn dĩ swastika là một biểu tượng cổ xưa xuất hiện trong nhiều nền văn hóa, từ Á sang Âu. Theo René Guénon (1886-1951), biểu tượng này ban đầu gắn với Cực Bắc và sự vận động quanh một trục cố định. Vì thế, ý nghĩa nguyên thủy của swastika là sự luân chuyển của vũ trụ - một hình ảnh tượng trưng cho sự sống và trật tự thiêng liêng. Người Ấn Độ đã liên kết biểu tượng thuận chiều kim đồng hồ (卐), gọi là swastika, với chuyển động của Mặt Trời và thần Surya, mang hàm nghĩa cát tường. Còn biểu tượng nghịch chiều kim đồng hồ (卍), đôi khi được gọi riêng là sauwastika, được liên kết với chuyển động của Mặt Trăng, màn đêm và nữ thần của sự chết - Kali. Bản thân từ swastika cũng bắt nguồn từ tiếng Sanskrit với nghĩa là “tốt lành”. Người Ấn Độ thường chạm khắc hoa văn này trên trán hoặc vẽ trong các mandala. Theo quan niệm của họ, những xoáy thuận hình swastika xuất hiện trên cơ thể là một trong 32 tướng tốt. Chính vì vậy, khi Phật giáo xuất hiện và tiếp nhận biểu tượng này, swastika được khắc họa trong lòng những dấu chân tốt lành của Đức Phật. Đồng thời, cũng được liên kết với bánh xe pháp (dharmachakra), bởi cả hai đều gợi lên sự vận động không ngừng trong trật tự.
Với cùng một ý nghĩa ban đầu là sự luân chuyển của thời gian, người Trung Quốc đã liên kết biểu tượng chữ thập ngoặc với vị trí và hình dạng của chòm Đại Hùng trên bầu trời phương Bắc qua bốn mùa trong năm. Do hình dạng của chòm sao này cong theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, nên dạng sauwastika phổ biến hơn trong văn hóa Trung Quốc. Họ còn gắn biểu tượng này với chữ vạn (萬), vì ngoài nghĩa đen là “mười ngàn”, từ này còn mang nghĩa bóng là sự vô hạn. Chính vì thế mà trong tiếng Hán, swastika thường được gọi là chữ vạn. Phật giáo Đại thừa đã tiếp biểu tượng chữ thập ngoặc này, khắc trên ngực Phật A Di Đà và sử dụng rộng rãi trong các họa tiết trang trí chùa chiền. Sự phổ biến đó khiến nhiều người lầm tưởng rằng đây là biểu tượng riêng của Phật giáo. Trên thực tế, swastika còn xuất hiện trong nhiều nền văn hóa khác. Ở Lưỡng Hà, biểu tượng này được Bái hỏa giáo liên kết với Mặt Trời, sự vô biên và khả năng sáng tạo. Tại châu Âu, swastika khá phổ biến trong các họa tiết đường viền thời Hy Lạp - La Mã cổ đại. Người Hy Lạp gọi nó là gammadion, vì theo họ thì biểu tượng này được tạo thành từ bốn chữ gamma (Γ).
Các tín hữu Kitô giáo thời kỳ đầu đã tiếp nhận hình tượng này như một dạng Thánh giá có ngoặc nối dài, xem đó như biểu tượng của sự Phục Sinh của Chúa Giêsu. Một ví dụ rõ ràng là bàn thờ của Vương Cung Thánh Đường Thánh Ambrogio - ngôi nhà thờ cổ nhất tại Milan (Ý), được xây dựng từ năm 379 đến 386 theo lệnh của thánh Ambrogio (339-397), khi ấy là Giám mục Milan. Còn bàn thờ, được biết đến với tên gọi Quách của Stilicho (Sarcophagus of Stilicho), có lẽ được chạm khắc vào khoảng năm 387-390 với họa tiết swastika, tạo thành một đường viền quanh các bức phù điêu. Giống như nhiều yếu tố trang trí và kiến trúc Hy-La khác, swastika tiếp tục xuất hiện trong nghệ thuật thời Phục Hưng. Một ví dụ tiêu biểu là họa tiết đường viền quanh ô cửa vòm trong bức Trường Athens của danh họa Raphael (1483-1520), được vẽ trong giai đoạn 1509-1511 theo đơn đặt hàng của Đức Giáo Hoàng Julius II (1443-1513) để trang trí Dinh Tông Tòa ở Vatican. Hoặc xuất hiện trên đường viền áo của tượng Giám mục William Edington (mất năm 1366) trong nhà thờ Chánh tòa Winchester (Anh). Đường viền swastika xuất hiện quanh tháp trung tâm của Đền thánh Phaolô Nguyễn Ngân có lẽ đã xuất phát từ ý kiến chủ quan của những người thợ địa phương và vô tình trở thành một biểu tượng tiếp nối truyền thống của Giáo hội. Ở đây, ta có thể xem swastika như một “giao điểm” trong văn hóa Á - Âu, hiện diện một cách hữu hình và bền bỉ trong ngôi nhà của Thiên Chúa.
Như đã nói ở trên, dù có mặt tiền được xây dựng theo phong cách Phục Hưng, kết cấu bên trong Đền thánh Phaolô Nguyễn Ngân vẫn được làm bằng gỗ. Không gian đã được trùng tu, toát nên vẻ vàng son như thuở hoàng kim. Gian cung thánh, bàn thờ và các khám thờ được sơn son thếp vàng lấp lánh. Xung quanh là các hoa văn trang trí hình chùm nho, bông lúa, fleur-de-lys và hoa lá. Giống như những không gian truyền thống Việt Nam, phía trên xà ngang có treo hoành phi, dọc theo thân cột có câu đối cũng sơn son thếp vàng. Tuy cả hoành phi và câu đối đều đã được viết bằng chữ quốc ngữ nhưng không thể phủ nhận tính truyền thống của những đồ vật này. Khám thờ thánh Phaolô Nguyễn Ngân nằm bên hữu gian cung thánh, được trang trí bằng nhiều đường nét tinh xảo. Bên dưới bàn thờ là hình cây Thánh giá nằm giữa hai cành lá vạn tuế và xiềng xích, biểu trưng cho sự tử đạo. Phía trên bàn thờ là tượng thánh Phaolô Nguyễn Ngân cầm cành lá vạn tuế và cuốn Kinh Thánh. Dưới chân ngài là hòm thánh tích cũng được chạm khắc biểu tượng tử đạo, xung quanh là các hoa văn chữ vạn swastika. Toàn bộ không gian bên trong Đền thánh không gợi nhắc gì đến vẻ ngoài “rất Tây” của ngoại thất, mà trái lại, mang đến một cảm quan đậm chất Á Đông. Trong không gian này, tinh thần hòa hợp với văn hóa địa phương và tiếp nối truyền thống dân tộc hiện diện một cách rõ ràng và thấm đẫm.
2.3 Nhìn về tương lai
Do nằm ngoài đê sông Mã, Đền thánh Phaolô Nguyễn Ngân đã nhiều lần bị nước lũ tràn vào. Các tín hữu sống quanh khu vực này đã di cư đến vùng đất cao ráo hơn sau trận lụt lịch sử năm 1973. Bởi thế mà ngày nay, ngôi thánh đường hơn một trăm năm tuổi gần như trơ trọi giữa mênh mông ruộng rẫy. Cũng vì lũ mà hằng năm, giáo dân họ Cự Khánh phải di dời đồ đạc trong Đền thánh khi nước sông bắt đầu dâng lên. Và sau mỗi trận lụt, họ lại phải cùng nhau quét dọn bùn đất. Thêm vào đó, quy mô của Đền thánh hiện tại khá nhỏ hẹp, không đủ sức đáp ứng nhu cầu của giáo dân vào các dịp lễ lớn. Những năm gần đây, khuôn viên đền đã được tôn tạo, xây dựng thêm mái che, núi đá, đài thánh, nhà đa năng…, nhưng nhìn chung thì vẫn chưa đủ sức đảm nhiệm vai trò của một trung tâm hành hương. Vì thế, giáo dân họ Cự Khánh đang ấp ủ nguyện vọng xây dựng một Đền thánh mới rộng rãi và cao ráo hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hành hương cũng như giáo dân trong vùng thường xuyên lui tới kính viếng thánh nhân. Đây là một nguyện vọng hoàn toàn chính đáng.
Chỉ mong rằng khi Đền thánh mới được dựng lên, công trình hiện tại vẫn sẽ được bảo tồn như một nhà nguyện phụ, để giữ gìn những dấu tích của tiền nhân và lưu lại một ví dụ tiêu biểu của kiểu nhà thờ “trong Á ngoài Âu”. Đồng thời, cũng hy vọng rằng Đền thánh mới sẽ tiếp nối tinh thần hòa hợp với văn hóa địa phương của những người đi trước, mang trong mình những đường nét và hình khối gần gũi với truyền thống Việt Nam.
(còn một kỳ nữa)
KỲ PHONG
Bình luận