Góp nhặt những câu chuyện lịch sử (P5)

ĐI TÌM TÁC GIẢ CỦA BÀI INÊ TỬ ĐẠO VÃN

Trong số tất cả những nạn nhân của cuộc bách hại năm 1700, bà Anê nổi bật với tính cách kiên định và đức tin mãnh liệt. Được chết vì vinh quang của Chúa là ước nguyện của bà, và bà đã chia sẻ ước nguyện này với anh trai Laurent sau khi chôn cất cha mình: Thấy cha dặn bảo mọi lời/ Công lòng bát ngát ước nơi cõi lành/ Xin cho gặp hội cầu danh/ Ta sẽ liệu mình họa đặng cùng chăng ? (95-98). Đối với vị thẩm phán ra lệnh bà phải từ bỏ đạo, bà đã trả lời bằng một lời tuyên xưng đức tin: Anê đặt gối trình qua:/ Chúng tôi giữ đạo Chúa Cha nhân từ/ Thật đàng công chính chẳng tư/ Tôi đâu dám bỏ công phu ngãi người/ Mặc ông tha giết hai lời/ Tôi thà chịu chết, cõi trời nên công/ Giết tha thì mặc lượng ông/ Kim thạch là lòng chẳng chậy mỗ phân (153-160).

Di chúc thiêng liêng của bà được tìm thấy trong hai lá thư bà viết trong tù. Trong thư thứ nhất, bà nhắc lại với chồng mình về tình yêu của bà dành cho Chúa:       Chúa cả cao quang phù trì tiểu tử/ Thiếp nay nhi nữ cám đức phu quân/ Ngãi sắt cầm những ước thiên xuân/ Đoan kim cải trọn bề tứ đức/ Đạo chính giúp tôi bền sức/ Ơn trên Chúa cả mở lòng/ Xảy gặp hội mây rồng/ Phải lìa đoan cá nước (300-307). Trong thư thứ hai, bà dặn con mình chu toàn sốt sắng đời Kitô hữu: Chúa cả xây vần càn khôn phúc tái/ Sở sinh là ngãi, dưỡng giục bào thai/ Trước kính tin một Chúa chớ nài/ Sau thảo kính hai bên cha mẹ (373-376).

Những giây phút cuối đời của bà Anê đặc biệt xúc động. Bất chấp nỗi đau đớn vì đói khát, đức tin của bà vẫn kiên định và đáng ca ngợi: Gượng mà kêu Chúa hơi don/ Mượn em kêu giúp kẻo non hơi rày/ Làm thinh thôi mới chắp tay/ Để qua trên ngực Chúa rày rước đi (512-515).

 III.  TẠM KẾT 

Giáo sư Võ Long Tê đã cất công làm sáng tỏ một số khía cạnh chưa được biết đến hoặc bị một số tác giả khác bỏ qua về nội dung và giá trị văn học của bài vãn. Sau khi phân tích văn hình sử, thời điểm lịch sử sự kiện..., giáo sư xác định tác giả là người trong cuộc, đương thời với nhân vật chính của bài vãn, nhưng chưa xác định danh tính của tác giả bài vãn. Dựa vào những nghiên cứu sâu sắc của giáo sư đã được nêu trên cùng với những sử liệu khác, chúng tôi xin được nêu lên danh tính của tác giả.

Theo “Inê Tử đạo Vãn”, gia đình của bà Anê có 12 người con, gồm bảy trai, năm gái, cha Laurent là con trai đầu lòng: Ca rô lô hiệu là người/ Diên ninh ấy phủ, nhà nơi Lâm Tuyền/ Vợ hiệu Sa ve là tên/ Giai lão kết nguyền, đạo đức kính tin/ Sinh đặng mười hai con hiền/ Bảy trai, năm gái, đã nên phước nhà/ Trọn bề trung hiếu thảo hòa/ Lo ren thứ nhứt thật là trưởng nam (7-14). Cuộc tử đạo của bà Anê Huỳnh Thị Thanh - em gái cha Laurent - đã được các thừa sai đương thời thuật lại . Phần phụ lục (trang 110-135) trong pho tự điển Dictionarium Latino - Anamiticum của Đức cha Jean Louis Taberd, xuất bản năm 1838, có in bài vãn về cuộc tử đạo của bà Anê, gồm các ngôn ngữ Quốc ngữ, Anh, Pháp, và Latinh. Bài vãn không đề tác giả và thời điểm ra đời, ở đây thử nêu lên vài ý:

- Trong pho tự điển Dictionarium Anamitico - Latinum của Đức cha Jean Louis Taberd, xuất bản năm 1838, phần mở đầu trang XLIII có giải thích cách thức làm vãn khi người ta qua đời, lương dân gọi là văn tế, Kitô hữu gọi là đức tính. Trong cách thức làm vãn, mà kể công nghiệp cùng nhơn đức người nào đã qua đời, thì phải đặt thế này: trước hết thì phải biết mỗi bài vãn có ba lúc, lúc thứ nhứt gọi là lúc mở, lúc thứ hai gọi là lúc đức tính, lúc thứ ba gọi là lúc ôi. Căn cứ vào hướng dẫn như thế,  bài Inê Tử đạo vãn tạm có thể được phân chia cấu trúc như sau:

* Lúc mở: từ câu 01 đến câu 105

* Lúc đức tính: từ câu 106 đến câu 531

* Lúc ôi: từ câu 532 đến hết bài.

Bài vãn được viết ra để vừa nên gương cho thiên hạ: “Chép làm một bổn để đời/ Truyền cho thiên hạ người người học theo” (câu 544 và 545), vừa để nên gương cho con cháu trong dòng tộc: “Để truyền sách ấy nối dòng đời sau/ Anê là hiệu làm đầu” (câu 557 và 558).

Những chi tiết về gia thế và tình tiết cuộc tử đạo của bà Anê trong bài vãn phải là người trong gia đình, người trong cuộc, người chứng kiến sự việc từ đầu đến cuối mới tỏ tường. Do đó, theo chúng tôi, cha Laurent Huỳnh Văn Lâu, người sống trong hoàn cảnh lịch sử, người anh cả trong gia đình, người kề cận với em mình là bà Anê, từ khi bà bị bắt cho đến khi nhận xác của bà, với tư cách là linh mục, đã viết bài vãn này trước hết để “Truyền cho thiên hạ người người học theo”, nhất là cho con cháu trong dòng tộc. Mục đích chung để trước, mục đích riêng để sau, và cuối cùng không đề tên tác giả mà chỉ để A.M.D.G. [Ad Majorem Dei Gloriam - Để Vinh Danh Chúa Hơn]. Hẳn đó là tính cách của một linh mục thông thái và khiêm nhường. Xin thử nêu lên vài chi tiết khác: Cha Laurent là một linh mục tinh thông các ngôn ngữ Latinh, Pháp, Anh. Cha từng nói chuyện bằng tiếng Latinh với cha Charles-Marin Labbé, Bề trên Đàng Trong lúc bấy giờ. Cha viết các thư báo cáo bằng tiếng Latinh như Thư báo cáo gởi cho Đức cha Laneau, đề ngày 17.02.1691 (06 trang rưỡi, khổ 15x24); Thư báo cáo gởi cho Tòa Thánh, đề ngày 16.02.1692 (02 trang rưỡi, khổ 15x24); Thư báo cáo gởi cho Đức cha Laneau, đề ngày 07.02.1693 (05 trang, khổ 15x24); Hai thư báo cáo gởi cho Tòa Thánh, đề ngày 07.02.1694 và 20.3.1697. Ngoài tiếng Latinh, cha còn thông thạo tiếng Pháp, vì cha được các thừa sai Pháp đào tạo tại Chủng viện truyền giáo ở Thái Lan - Collège de Siam. Cha cũng từng tham gia làm thông dịch tiếng Anh cho chúa Nguyễn Phúc Chu với phái bộ Anh (1695-1696).

Trong bản Việt ngữ không xác định chủ từ “Tôi” nhưng trong bản Anh, Pháp, Latinh đều xác định chủ từ “Tôi”, chẳng hạn:

Câu 544 “Chép làm một bổn để đời”:

* I have written her life to preserve it to posterity,

* J’ai écrit sa vie pour la conserver à la postérité,

* Descriptam ejus vitam posteris nuncupo

Câu 546 “Thấy thì hầu đả cheo leo”- [thấy trước những ngày khó khăn sẽ đến]:

* I foresee that troublous times will come,

* Je prévois que les jours à venir seront mauvais,

* Durissima tempora nobis iminere prævideo

Từ những gì hiện biết đã được nêu trên, chúng ta mạnh dạn xác định cha Laurent, anh ruột của bà Anê chính là tác giả của của bài vãn cả 04 ngôn ngữ Quốc ngữ, Latinh, Pháp và Anh.

Trong Dictionarium Latino - Anamiticum (1838),  phần phụ lục trang VII có chép: “Hầu hết phần dịch tiếng Anh là nhờ thiện ý của ông James Princep, Tổng thư ký Hiệp hội châu Á ở Bengal, người mà chúng tôi cũng vô cùng biết ơn nhờ sự nhiệt tình của ông đã làm cho công trình này được thành công”. Louis Malleret, tác giả “Note sur Les Dictionaires de Mgr. Taberd publiés au Bengale en 1838” cho biết: ... Đức cha Taberd đã ghi nhận những nguyện vọng của ngài Thư ký Toàn quyền Ấn Độ nhằm làm cho sách (tự điển) dễ hiểu đối với các thủy thủ và thương nhân, bằng cách đưa vào đây những giải thích một số từ vựng tiếng Anh thông dụng bằng tiếng Anh, cũng như bằng tiếng Latinh, tiếng Việt và các ngôn ngữ khác. Tác giả tự điển chấp thuận nguyện vọng ấy bằng cách thêm vào một bản tóm lược phong phú các danh từ, động từ, mẫu đối thoại, ngữ pháp... đối chiếu các ngôn ngữ Anh, Pháp, Latinh và Việt Nam.  Như thế, Lời “phi lộ” ở phụ lục Latino - Anamiticum nhằm nhắc đến công khó của ông James Princep về bản dịch một số từ vựng tiếng Anh thông dụng được in trong phần phụ lục của tự điển Latino - Anamiticum.  Do đó, Lời “phi lộ” không xác nhận ông M. James Princep là dịch giả bản dịch tiếng Anh của bài Inê Vãn.

 

 

 

1 Trong tình yêu, kim thạch là lòng trung kiên, gắn bó bền vững. Mỗ: tôi = Ý nghĩa: Lòng tôi vẫn kiên định, không phân ly, chia lìa.

2  ADRIEN LAUNAY, sđd, trang 465-466, 468.

3 Bộ tự điển của Đức cha Taberd xuất bản năm 1838 có hai quyển, Quyển I: Dictionarium Anamitico - Latinum; Quyển II: Dictionarium Latino - Anamiticum.

4 ADRIEN LAUNAY, Histoire de la mission de Cochinchine, Paris 2000, T.I, trang 465.

5 ADRIEN LAUNAY, Sđd, Paris 2000, T.I, trang 536.

6 ADRIEN LAUNAY, sđd, trang 415-421.

7 ADRIEN LAUNAY, sđd, trang 422-424.

8 ADRIEN LAUNAY, sđd, 425-429.

9 ADRIEN LAUNAY, sđd, trang 429-430.

10 ADRIEN LAUNAY, sđd, trang 536

11 Bulletin de la Société des Études Indochinoises (BSEI) 1948 -Tome XXIII - Nouvelle série - N° 1, trang 84.

12 Xem thêm S. KARPELÈS, réf. aux Public Général Letters, 17 Janvier 1838, n° 4.

Lm Gioan VÕ ĐÌNH ĐỆ

 

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Biển xanh vỗ về tình bạn
Biển xanh vỗ về tình bạn
Một buổi chiều mùa hè, tôi ngồi trên bãi cát, hướng mắt ra đường chân trời xa tắp - nơi màu xanh của biển và bầu trời hòa lẫn làm một.
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Giữa mảng xanh rộng lớn của khuôn viên nhà thờ Thánh Tâm, giáo hạt Hố Nai, GP Xuân Lộc, có nhiều bức tượng lớn với gam màu sáng.
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nhà thờ Suối Tre (giáo phận Xuân Lộc) do kiến trúc sư người Pháp vẽ mẫu vào khoảng năm 1958. Công trình được thi công trong giai đoạn 1961-1963, sử dụng nhiều vật liệu nhập từ Pháp như khung sắt và chuông.
Biển xanh vỗ về tình bạn
Biển xanh vỗ về tình bạn
Một buổi chiều mùa hè, tôi ngồi trên bãi cát, hướng mắt ra đường chân trời xa tắp - nơi màu xanh của biển và bầu trời hòa lẫn làm một.
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Giữa mảng xanh rộng lớn của khuôn viên nhà thờ Thánh Tâm, giáo hạt Hố Nai, GP Xuân Lộc, có nhiều bức tượng lớn với gam màu sáng.
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nhà thờ Suối Tre (giáo phận Xuân Lộc) do kiến trúc sư người Pháp vẽ mẫu vào khoảng năm 1958. Công trình được thi công trong giai đoạn 1961-1963, sử dụng nhiều vật liệu nhập từ Pháp như khung sắt và chuông.
Thử nhìn bằng góc nhìn của người khác
Thử nhìn bằng góc nhìn của người khác
Hồi còn nhỏ, nhà tôi có một cái bàn gỗ đặt gần cửa sổ, trên bàn có đủ thứ đồ, khi thì tập sách của anh em tôi, lúc lại là mấy cái điều khiển tivi mà chúng tôi cầm nhầm từ phòng khách làm người lớn cứ đi phải...
Nhà thờ bên đập nước
Nhà thờ bên đập nước
Đập Tam Giang là một công trình thủy lợi, và là thắng cảnh đẹp thu hút nhiều du khách đến thăm vùng quê thuộc địa phận huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên (cũ). Đập này được xây dựng chắn ngang con sông Cái - là nơi 3 dòng sông được...
Đến và trở về với Chúa
Đến và trở về với Chúa
Tôi từng nghĩ mình hiểu thế nào là đứng trước nỗi đau của một người khác, cho đến ngày mẹ của một người bạn tôi qua đời. Nhớ lại những ngày đầu năm 2026, đó là lúc chúng tôi đang trong kỳ thi cuối năm ba đại học.
Thánh tích Mẹ Têrêsa Calcutta tại giáo xứ Thanh Đa
Thánh tích Mẹ Têrêsa Calcutta tại giáo xứ Thanh Đa
Giáo xứ Thanh Đa (TGP TPHCM) từng đón tiếp Mẹ Têrêsa Calcutta hai lần vào các năm 1993 và 1994. Hiện nay, nhà thờ lưu giữ nhiều thánh tích của Mẹ, như tóc, máu và mảnh áo.
Thanh Hóa chuyện xưa  dấu cũ
Thanh Hóa chuyện xưa dấu cũ
Có một đặc điểm chung của những ngôi nhà thờ cổ được xây dựng ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, là dù có mặt tiền theo kiểu truyền thống hay một phong cách nào đó của châu Âu, thì kết cấu bên trong...
Y Vân và ca khúc bất hủ về mẹ
Y Vân và ca khúc bất hủ về mẹ
Trong kho tàng âm nhạc (tân nhạc) Việt Nam, có thể nói ca khúc Lòng Mẹ của Y Vân là một tác phẩm bất hủ. Nhiều người ví von đó là một bản “quốc ca” về tình mẫu tử - không chỉ bởi giai điệu mượt mà, lời ca giàu...