Nước mặn nơi có duyên nợ với Đức cha Pierre Lambert De La Motte
Khi Tòa thánh thành lập hai giáo phận Tông tòa tại đất nước “Con Rồng Cháu Tiên” vào ngày 09.9.1659, Đức cha Pierre Lambert de La Motte được bổ nhiệm làm Giám quản Tông tòa Giáo phận Đàng Trong. Ngày 27.11.1660, Đức cha rời cảng Marseille để đến với giáo phận. Sau cuộc hành trình 02 năm, 02 tháng, 04 ngày, Đức cha đã đến Xiêm La. Tuy nhiên, vì hoàn cảnh xã hội, Đức cha chưa thể vào gia đình Đàng Trong của mình. Đến lúc có thể, ngày 20.7.1671, Đức cha rời cảng Ayutthaya để vào Đàng Trong. Trong chuyến viếng thăm mục vụ này, Nước Mặn là nơi có duyên nợ với Đức cha Lambert.

1. Địa lý - thiên nhiên một vùng đất:
“Mãn vui Hương Thủy Ngự Bình/ Ai vô Bình Định với mình thì vô/ Chẳng lịch bằng kinh đô/ Bình Định không đồng khô cỏ cháy/ Năm dòng sông chảy/ Sáu dãy non cao/ Biển Đông sóng vỗ dạt dào/ Tháp xưa làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh”.
Những lời mộc mạc ấy của người học trò xứ ‘nẫu’ ngỏ lời với người học trò sông Hương núi Ngự đã giới thiệu được khái quát thủy thổ của Bình Định, nơi có bờ biển dài 134km. Có nhiều dòng sông lớn nhỏ với dòng nước trong xanh ngoằn ngoèo uốn lượn trong đất Bình Định trước khi ra biển cả hòa mình với đại dương. Năm dòng sông lớn cắt ngang địa hình Bình Định theo hướng Tây sang Đông gồm sông Tam Quan, sông Lại Giang, sông La Tinh, sông Côn, sông Hà Thanh. Năm dòng sông này trước khi chảy ra biển quần tụ thành những đầm vịnh, cửa biển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu từ vùng biển vào đồng bằng, lên miền núi và ngược lại. Sông Tam Quan chảy ra cửa biển Kim Bồng. Sông Lại Giang chảy ra cửa biển An Giũ . Sông La Tinh vào đầm Đề Gi ra cửa biển Đề Gi . Sông Hà Thanh và Sông Côn vào đầm Thị Nại ra cửa biển Thị Nại - Qui Nhơn.
2. Cảng thị Nước Mặn
Ngoài năm dòng sông chính đó còn có những phụ lưu song song hoặc giao nhau với các tỉnh lộ, huyện lộ. Dọc theo các điểm bờ sông giao nhau với đường bộ và tại các cửa biển, các cụm dân cư đã được hình thành. Các làng nghề, các cảng thị sông biển cũng sớm ra đời cùng với các cụm cư dân. Trong số các cảng thị được hình thành tại Bình Định, Nước Mặn là một cảng thị sầm uất bên bờ sông Hà Bạc, một chi nhánh của sông Côn.
Trong thế đứng đối lập với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn ở Đàng Trong có những quyết sách tận dụng mọi nhân tố cũng như điều kiện thuận lợi tự nhiên, nhằm xây dựng cho mình một thế đứng vững mạnh ở Đàng Trong. Trong tầm nhìn đó, phát triển thương mại hàng hải là quyết sách căn bản đã giúp cho chúa Nguyễn đạt được thành công. Vào cuối thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII, chúa Nguyễn đã có chủ trương khai thác năng lực của các cảng biển như Hội An (Quảng Nam ngày nay), Thanh Hà (Huế ngày nay), và Nước Mặn (Bình Định ngày nay) . Các phố cảng này chiếm vị trí quan trọng trong quan hệ ngoại thương, đón nhận các đoàn thương nhân Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Trung Hoa, Hà Lan, Anh Quốc... Trong đó, thương cảng Hội An chiếm vị trí quan trọng hàng đầu. Đặc biệt, Hội An và Nước Mặn là hai phố cảng gắn liền với lịch sử loan báo Tin Mừng ở Đàng Trong.

Phố cảng Nước Mặn
Trong Hồng Đức bản đồ (1490), thương cảng Nước Mặn được ghi là “Nước Mặn hải môn”. Trong giai đoạn thế kỷ XVI-XVII, Nước Mặn là một cảng thị sầm uất ở phủ Qui Nhơn. Tháng 7 năm 1618, quan phủ Qui Nhơn đưa cha Buzomi, cha Pina và cha Borri về Nước Mặn; trong bản tường thuật, cha Borri gọi đó là thành phố Nước Mặn (Città Nuoecman). Cha Borri không nói đến cảnh buôn bán ở Nước Mặn nhưng đã cho thấy sự rộng lớn của cảng thị này: “dài năm dặm, rộng nửa dặm” . Nước Mặn cũng được các cha Dòng Tên vẽ trên bản đồ năm 1650, với tên gọi “Nehor Man ou Eau salée”.
Năm 1749-1750, Pierre Poivre, thương nhân Pháp, du hành đến Đàng Trong và viết trong hồi ký của mình: “Tại tỉnh Qui Nhơn có một thương cảng khác gọi là Nước Mặn, là một cảng tốt, an toàn, được thương nhân lui tới nhiều, nhưng kém hơn Faifo (Hội An), lại không thuận tiện vì quá xa kinh thành, mà các thuyền trưởng thì nhất thiết phải đi đến kinh thành nhiều lần và phải đi ròng rã 6 ngày đường”.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nhân thì: “Thời phồn vinh, Nước Mặn có đường hàng hải quốc tế của người Bồ Đào Nha đi lại buôn bán với Vuconva, Luzon (Philippines), Malaysia, Macao và có lẽ cả Nhật Bản. Nước Mặn có đường biển tới các cảng trong nước như Hội An, Đà Nẵng, Phú Xuân, Cam Ranh, Gia Định; đường sông tới các thị tứ ở Qui Nhơn như Đập Đá, An Thái, Phú Phong, Đại An, Gò Găng, Phú Đa”.
TS. Đỗ Bang lại nhận xét: “Xét về tầm vóc của thương cảng, Nước Mặn không thể hơn cảng Thị Nại thời vương quốc Champa (thế kỷ X-XV). Xét về ngoại thương, Nước Mặn cũng khó sánh được với Hội An, Thanh Hà, Phố Hiến…, nhưng về nội thương, Nước Mặn có vị thế quan trọng cho cả phủ Qui Nhơn và vùng Tây Nguyên hiện nay”.
TS. Lê Đình Phụng, trong bài Thương cảng Nước Mặn (Qui Nhơn) - Xứ Đàng Trong cho rằng: “Nằm trên địa bàn một phủ giàu có, gần các phủ Phú Yên, Bình Khang, Dinh Nha Trang, có nguồn hàng dồi dào từ cao nguyên đổ về, cảng Nước Mặn có vai trò quan trọng trong giao lưu thương mại… Cũng như các thương cảng xứ Đàng Trong, cảng Nước Mặn hoạt động chủ yếu với sự tham gia của các thương nhân người Hoa và thương nhân châu Âu qua lại buôn bán, thu mua hàng hóa, sản vật nhiệt đới”.
Năm 1994, đoàn khảo cổ Việt - Nhật đã khảo sát nghiên cứu khu vực Nước Mặn, nhận định: “Đặc biệt, khi được tiếp xúc trực tiếp với những mảnh sứ Hizen tìm lọc từ trong “mớ hỗn độn” đồ sứ Trung Hoa do dân thu gom được, chúng tôi nhận thấy thương cảng Nước Mặn hình như có đủ các loại hình gốm Hizen mà tại địa điểm khảo cổ học Indonesia và Thái Lan đã tìm thấy. Trong đó cũng có những loại mà ở thương cảng Thanh Hà và Hội An chưa phát hiện được”.
Vào tháng 4 năm 2006, Bảo tàng tổng hợp Bình Định đã tổ chức khảo sát nhưng không quy mô. Kết quả được ghi nhận: “Hố khảo sát chỉ có diện tích 6m2, lại mới đào khoảng 50cm, nhưng các nhà khoa học đã tìm thấy hàng vài trăm mảnh gốm sứ các loại như gốm Gò Sành (gốm Chăm thế kỷ XIV-XV), gốm Chu Đậu (Việt Nam, thế kỷ XVI), Nhật Bản, Trung Quốc (thế kỷ XVII), thậm chí cả gốm vùng Trung Cận Đông, gốm Thái Lan. Nhiều nhất vẫn là gốm Chăm, Trung Quốc và Nhật Bản. Gốm Trung Quốc và Nhật Bản cùng mang màu xanh trắng, nhưng có thể phân biệt khá rõ về sắc độ và sự tinh xảo. Có mặt tại điểm khảo sát, tiến sĩ Roxana M.Brown (một chuyên gia về gốm Đông Nam Á, hiện là Giám đốc Bảo tàng Gốm Đông Nam Á thuộc Đại học Bangkok - Thái Lan), cho rằng niên đại của các hiện vật gốm Trung Quốc và Nhật Bản nằm khoảng thời gian từ 1620 đến 1680”.
Tháng 7 năm 2016, Bảo tàng tổng hợp tỉnh Bình Định phối hợp với Viện khảo cổ học, tổ chức khai quật khảo cổ khu vực thương cảng Nước Mặn, do thạc sĩ Bùi Văn Hiếu, cán bộ Viện khảo cổ học chủ trì. Ngày 22.7.2016, tại Bảo tàng tổng hợp tỉnh Bình Định, đoàn khảo cổ báo cáo kết quả khai quật bốn hố thám sát. Về vật liệu kiến trúc, thu được 789 mảnh gạch ngói, đa phần đều bị vỡ nhỏ. Đồ gốm sứ thu được 4.844 mảnh đất nung, gốm men và sứ cũng phần lớn đều vỡ nhỏ. Gốm men và sứ bao gồm các loại hình bát, đĩa, cốc... với các dòng men nâu, ngọc, trắng, lam có nguồn gốc Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, niên đại trải dài từ thế kỷ XVI-XVII đến thế kỷ XIX- XX. Đồ sành thu được 2.823 mảnh, chủ yếu niên đại khoảng thế kỷ XVII-XVIII. Đồ sắt thu được 12 hiện vật đã bị oxy hóa nặng, chưa xác định loại hình và niên đại. Ngoài ra còn có năm đồng tiền và một mảnh tiền cũng bị oxy hóa nặng, trong đó có hai đồng cho thấy tiền Khai Nguyên thông bảo (713-741) và Khang Hy thông bảo (1661-1722).
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí, bản chép thời Tự Đức, trong phần tỉnh Bình Định, mục thị tập có ghi tên 118 chợ lớn nhỏ trong toàn tỉnh Bình Định, nhưng không thấy có Nước Mặn, dù chỉ là một chợ nhỏ. Như thế có thể nói, bước sang thế kỷ XIX, cảng thị Nước Mặn vang bóng một thời đã suy tàn, các thương nhân đến các nơi khác hoặc về Qui Nhơn buôn bán, tạo tiền đề phát triển cho thành phố Qui Nhơn ngày nay.
Sự ra đời của một cảng thị, sự hưng thịnh, suy vong, lụi tàn đều có những lý do tất yếu. Theo các nhà nghiên cứu, cảng thị Nước Mặn ngày xưa bao gồm các thôn An Hòa và Lương Quang thuộc xã Phước Quang, thôn Kim Xuyên thuộc xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước ngày nay (trước sáp nhập). Trải qua thời gian dài dâu bể và do sự bồi đắp tự nhiên của phù sa, cảng thị ngày càng biến dạng và suy tàn.
Vào thế kỷ XVII-XVIII, cửa khẩu đi vào Nước Mặn được gọi là Kẻ Thử. Cửa khẩu này dẫn vào phía Bắc đầm Thị Nại, phân biệt với cửa Thị Nại ở phía Nam. Cửa Kẻ Thử đã bị bồi lấp, nối liền núi Bà ở phía Bắc và núi Đơn ở phía Nam, tạo nên một trảng cát dài hơn 8 cây số. Ngày nay tại vùng đất này vẫn còn tên gọi chợ Kẻ Thử thuộc thôn Phương Phi, xã Cát Tiến, huyện Phù Cát (trước sáp nhập).
Theo truyền tụng dân gian, vào thời Gia Long, trời nổ sấm và lấp cửa Kẻ Thử. Theo bản đồ địa chất Nghĩa Bình, từ Đề Gi qua núi Bà đến Qui Nhơn có mạch đứt gãy hoạt động từ 500 năm nay, mạch đứt gãy chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Cửa Kẻ Thử nằm ngay trên mạch đứt gãy này nên đành chịu sự vùi lấp. Cách nay khoảng hơn 200 năm, mạch đứt gãy này có sự kiến tạo đột biến ở phía Nam núi Bà, làm cho vùng này trồi lên cách bất thường. Cửa Kẻ Thử bị lấp, đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình.
(còn nữa)
------------------------------------------------------------------------------
1 Cửa An Giũ còn gọi là An Dụ, Ti Phu, Tà Phù, tùy theo thời điểm lịch sử. Thuộc huyện Hoài Nhơn.
2 Đầm Đề Gi còn gọi là đầm Đạm Thủy hay đầm Nước Ngọt, nằm trong huyện Phù Mỹ và huyện Phù cát.
3 ĐỖ BANG, Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII-XVIII, Luận án PTS. Khoa học lịch sử, Hà Nội 1993, tr. 172.
4Theo CHRISTOFORO BORRI, Relatione della nuova missione delli PP. della Compagnia di Giesù al Regno della Cocincina, Francesco Corbelletti, Roma 1631, tr. 133: Nước Mặn có diện tích “di cinque miglia in lungo, e di mezzo in largo” (dài năm dặm, rộng nửa dặm). Bản dịch Việt ngữ của Hồng Nhuệ: Tường trình về Khu truyền giáo Đàng Trong 1631, Nxb. Thăng Long, Hoa Kỳ 1989, tr. 75: “Nước Mặn, một địa điểm dài chừng hai dặm và rộng tới một dặm rưỡi”. Bản dịch tiếng Pháp của Bonifacy: Relation de la nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochinchine, trong Bulletin des Amis du Vieux Huế, Juillet-Dec. 1931, tr. 351: “…Nuoecman, qui s’étend sur une longeur de cinq milles, et une largeur de cinq milles” (dài năm dặm, rộng năm dặm).
Tên tác giả và tên tác phẩm trên đây được viết bằng tiếng Ý thế kỷ XVII có phần khác với tiếng Ý hiện nay. Theo tiếng Ý hiện nay, tên tác giả và tác phẩm được viết như sau: CRISTOFORO BORRI, Relazione della nuova missione dei PP. della Compagnia di Gesù al Regno della Cocincina. Tuy nhiên trong sách này chúng tôi giữ nguyên tên tác giả và tác phẩm theo cách viết thời ấy.
5 Xem bản đồ.
6 ĐỖ BANG, Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII-XVIII, Hà Nội 1993, tr. 160; HENRI CORDIER, “Voyage de Pierre Poivre en Cochinchine, description de la Cochinchine”, trong Revue de Extrême-Orient, T. III, 1887, tr. 167.
7 NGUYỄN XUÂN NHÂN, Cảng thị Nước Mặn và văn hóa cổ truyền, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, 2010, tr.94.
8 ĐỖ BANG, sđd, tr.164.
9 LÊ ĐÌNH PHỤNG, Thương cảng Nước Mặn (Qui Nhơn), Xứ Đàng Trong, in trong Việt Nam trong hệ thống thương mại châu Á thế kỷ XVI-XVII, Nxb. Thế Giới, 2007, tr.583-592.
10 BÙI MINH TRÍ, PHẠM QUỐC QUÂN, Gốm Hizen Nhật Bản tìm thấy ở một số địa điểm khảo cổ học ở Việt Nam, Tạp chí Khảo cổ học, số 4/1994, tr.44.
11 VIẾT THỌ - HOÀI THU, “Khảo sát cảng thị Nước Mặn”, trong Báo điện tử Bình Định, 8:18’, 28.04.2006.
12 Xem Báo Bình Định, ngày 24.07.2016.
13 QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN, Đại Nam Nhất Thống Chí, tỉnh Bình Định (bản dịch của Nguyễn Tạo), Nhà Văn hóa Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản năm 1964, tr. 84-92.
14 Trong tấm bia ở đền Quan Thánh thuộc thành phố Qui Nhơn có ghi một người họ Nguyễn, quê Nước Mặn, cúng năm quan tiền để xây dựng ngôi đền này vào năm 1837.
15 “Kẻ” có nghĩa là cửa. Cửa Kẻ Thử còn được dân địa phương gọi là cửa Cách Thử.
16 ĐỖ BANG - NGUYỄN TẤN HIỂU, Lịch sử thành phố Qui Nhơn, Nxb. Thuận Hóa, 1998, tr. 76-83.
Lm Gioan VÕ ĐÌNH ĐỆ
Bình luận