Góp nhặt những câu chuyện lịch sử (P1)

ĐI TÌM TÁC GIẢ CỦA BÀI INÊ TỬ ĐẠO VÃN

Phần phụ lục (trang 110-135) trong quyển tự điển Dictionarium Latino - Anamiticum của Đức cha Jean Louis Taberd, xuất bản năm 1838 tại Ấn Độ có in bài vãn về cuộc tử đạo của bà Inê/Anê Huỳnh Thị Thanh, em gái cha Laurent, quê Chợ Mới, Nha Trang. Đây là bài vãn có tính lịch sử, có giá trị của nền văn học Công giáo Việt Nam thời kỳ đầu, không đề tên tác giả và thời điểm ra đời. Các nhà nghiên cứu đã ra công tìm hiểu vấn đề, trong đó kỹ nhất là bài nghiên cứu của Giáo sư Võ Long Tê “Inê Tử đạo vãn ou Le Martyr d’Agnès” đăng trong Bulletin de la Société Des Études Indochinoises, Nouvelle Série - Tome XLII, No. 4, 4è Trimestre 1967, Sài Gòn 1967, trang 305- 351)

 9dbc4.webp (156 KB)

I. Nghiên Cứu Tài Liệu

Trước hết, chúng ta cần lưu ý rằng từ khởi thủy công cuộc truyền giáo ở Việt Nam cho đến giữa thế kỷ 17, các tác phẩm thuộc văn học Công giáo Việt Nam đều là văn bản truyền miệng và văn bản Nôm. Từ năm 1651 trở đi, các tác phẩm của cha Alexandre de Rhodes (1595-1660) đã gợi hứng và mở đường cho nền văn chương quốc ngữ. Một trong những tác phẩm đầu tiên này là Inê Tử Đạo Vãn, một bài vãn tự sự dài 561 câu, kể lại cuộc tử đạo của Anê vào năm 1700, theo lệnh của chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1723). Thật khó để xác định tác giả và thời điểm sáng tác bài vãn này, hay đúng hơn là tìm được bản gốc. Bốn phiên bản bằng tiếng Việt, tiếng Latinh, tiếng Pháp và tiếng Anh mà chúng ta hiện biết được là nhờ Đức Giám mục Taberd (1794-1840), in trong phần phụ lục của cuốn từ điển Latinh - Việt của ngài xuất bản tại Bengal năm 1838.

 

1. Bối cảnh lịch sử của bài vãn

Các nhà nghiên cứu đã cho rằng, Đức Giám mục Taberd đã sử dụng bản thảo từ điển Anamitico - Latinum của Đức Giám mục Pigneau de Béhaine (1771-1779) để hoàn thành quyển Dictionaire Anamitico - Latinum. Rất không may, bản gốc của bản thảo này đã bị cháy vào năm 1778, trong vụ hỏa hoạn tại Chủng viện Truyền giáo Đàng Trong. Đức cha Taberd sử dụng một bản sao có niên đại 1772, được lưu giữ tại Văn khố Hội truyền giáo Nước ngoài Paris (MEP). A. Launay cho rằng, Đức Giám mục Taberd đã thay đổi rất ít trong tác phẩm gốc. Điều này cho thấy bài vãn về cuộc tử đạo của Anê nằm trong số những tài liệu mà Đức Giám mục Pigneau de Béhaine thu thập được. Dù sao đi nữa, khi Đức Giám mục Taberd rời Việt Nam vào năm 1833, hẳn ngài đã mang theo trong hành trang văn chương của mình bản chép lại bài vãn bằng chữ Quốc ngữ, và điều này, nếu không phải nhờ công lao của Đức Giám mục Pigneau de Béhaine, thì ít nhất cũng nhờ công lao của chính ngài, hoặc của những cộng sự thân cận.

2. Đi tìm tác giả bài vãn

Cha Louvet nhận định phiên bản gốc của bài vãn về cuộc tử đạo của Anê là tiếng Việt. Cha viết: “Trong số những chứng nhân anh hùng này, không ai để lại ký ức sống động như một phụ nữ tên là Anê, người đã dũng cảm chịu đựng thử thách cùng với một số người thân của mình. Một nhà thơ Kitô giáo đã viết về nỗi khổ đau của bà bằng những vần thơ tuyệt đẹp, và ngay cả ngày nay, chúng ta vẫn có thể nghe câu chuyện cảm động về cái chết của bà Anê và những người cùng đau khổ với bà, được đọc trong các trường học hoặc hát trong các giờ kinh gia đình vào buổi tối”.

Câu hỏi đặt ra là nhà thơ Kitô giáo này là một trong những thầy giảng hay linh mục Việt Nam đã chứng kiến ​​biến cố thương đau trong lịch sử Giáo hội tại Việt Nam? Dù sao đi nữa, tác giả hẳn phải là một Kitô hữu cùng thế hệ với bà Anê và cùng sinh sống ở vùng Đàng Trong như bà, tức là vùng đất phía Nam do chúa Nguyễn cai quản.

Giả định này dựa trên những cân nhắc về mặt xã hội học và văn học. Theo một truyền thống tốt đẹp, các nhà thơ không bao giờ ngừng sáng tác những tác phẩm văn học lấy cảm hứng từ những sự kiện thời sự mà họ quan tâm. Cuộc tử đạo của bà Anê quả thực là một chủ đề tuyệt vời cho văn học khai sáng. Tính xác thực của câu chuyện và sức mạnh kịch tính khẳng định bài vãn là sự ngưỡng mộ của một tác giả Kitô giáo được truyền cảm hứng mạnh mẽ bởi danh hiệu tử đạo vinh quang. Thuật ngữ tôn giáo được sử dụng trong bài vãn là thuật ngữ của những thế hệ Công giáo tại Việt Nam đầu tiên. Thử xem thuật ngữ Phapha (Đức Giáo Hoàng) được sử dụng trong lá thư mà Đức Giám mục gởi cho cha Laurent: Chúa cả công bình cầm quờn thưởng phạt/ Pha pha chính tước, Thầy cả Vít vồ, (221-222). Thuật ngữ Pha pha cũng được tìm thấy trong một bài dân ca ngắn có niên đại từ thời cha Alexandre de Rhodes, một trong những người truyền giáo thành công thuộc thế hệ đầu tiên ở Đàng Ngoài. Cùng với Pierre Marquez, ngài đã cập bến Cửa Bạng, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 19 tháng 3 năm 1627, ngày lễ Thánh Giuse. Trong hai tháng rao giảng, ngài đã thành công trong việc thành lập một cộng đồng Kitô giáo gồm 200 người bản xứ ở vùng cảng này, và cũng từ vùng An Vực, nơi nhà thờ đầu tiên của vùng truyền giáo được xây dựng, nằm rất gần cửa biển Thần Phù. Những dữ liệu lịch sử này là cần thiết để hiểu câu dân ca phổ biến của giáo dân Đàng Ngoài: Thứ nhất đền Thánh Phapha, Thứ nhì ​​​​Cửa Bạng, Thứ ba Thần Phù.

Những thuật ngữ cổ xưa đó chứng minh rằng, tác giả là thế hệ của bà Anê. Ví dụ, động từ thìn (tự chủ, giữ) được sử dụng trong những câu thơ này: Anh thì ở lại chớ sờn/ Thìn lòng giữ đạo chẳng hơn cũng tày (Câu 283-284). Trong ngôn ngữ hiện đại, từ thìn đã biến mất. Từ thìn được sử dụng phổ biến trong các tác phẩm trước thế kỷ 19, ví dụ như trong Quốc âm thi tập (Tuyển tập thơ bằng chữ Nôm) của Nguyễn Trãi (1380-1442): Lòng Xuân nhẫn động ắt không thìn? (Làm sao giữ được cảm xúc mùa Xuân?).

Về nguồn gốc Đàng Trong của tác giả, chúng ta có thể chứng minh điều đó thông qua những từ ngữ và cách diễn đạt đặc trưng của phương ngữ phổ thông vùng phía Nam Đàng Trong. Trong những câu thơ sau, đam, dưng và nhơn đoan lần lượt là các biến thể ngôn ngữ Đàng Trong của đem/đam (apporter), dâng/dưng (offrir), và nhân duyên/nhơn duyên (lien d’amour): Sáu người huynh đệ mới toan/ Đồng Nai tới rước tài quan đam về (71-72). Hạnh nầy thì đã phân minh/ Xem cho tường tận dưng kinh nguyện cầu (553-554). Kể từ định chốn nhơn đoan/ Mát cô là hiệu phụng loan kết nghì (35-36).

Bên cạnh tất cả những lập luận rút ra từ nghiên cứu ngữ văn của bài vãn, tưởng cũng cần bổ sung những lập luận liên quan đến cấu trúc tác phẩm và nhịp điệu. Tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du (1765-1820) đánh dấu thành tựu đỉnh cao của thể thơ lục bát. Trong các tác phẩm ở giai đoạn trước kiệt tác này, chúng ta nhận thấy việc sử dụng một số phương thức làm thơ và liên quan đến thể thơ lục bát, những điểm không hoàn hảo trong cách sắp xếp nhịp điệu và cách sắp xếp vần điệu. Những nhận xét này áp dụng cho bài vãn về bà Anê và cho phép đặt nó vào giai đoạn trước kiệt tác của Nguyễn Du. Thật vậy, trong số 561 câu thơ, có 458 câu được viết theo nhịp điệu được gọi là “lục bát”. Bốn đoạn văn được viết theo quy tắc văn xuôi nhịp điệu (nói lối) chiếm 103 câu. Đây là bản cáo trạng kết tội bà Anê, được viết bằng chữ Hán (văn bản hành chính) theo cấu trúc của quy định pháp lý cũ; bức thư của Đức Giám mục gởi cho cha Laurent và hai bức thư của bà Anê gởi cho các thành viên trong gia đình. Mặt khác, bài vãn bắt đầu bằng hai câu thơ dài theo thể song thất lục bát: Tượng điềm lành từ Canh thân Hán/ Chúa ra đời giáng đản chúng dân (1-2). Sự hiện diện khác thường của cặp thơ bảy chữ này thường thấy trong các bài vãn tự sự mà nhịp thơ được gọi là “lục bát” vẫn chưa đạt đến sự hoàn hảo, chẳng hạn như Gia huấn ca (Bài ca giáo dục gia đình) của Nguyễn Trãi (1380-1442), Bài hát mừng làng (Bài ca ngợi làng) của Lê Đức Mao (1462-1527) là một vài ví dụ nổi tiếng nhất.

(còn nữa)

______________________________________________

1 A. LAUNAY, Mémorial de la Société des Missions Étrangères, 2e partie, Paris 1916,  trang 589.

2 LOUIS LOUVET, La Cochinchine religieuse, tome I, Challamel éditeur, Paris 1914, trang 336.

3 Đền thánh Pha pha tức đền thánh Phêrô ở Rôma. Thần Phù xưa là cửa biển hiểm yếu, ở giữa Nga Sơn, Thanh Hóa và Yên Lâm, Ninh Bình, nay đã bị bồi lấp nằm sâu trong đất liền cả chục km. Cửa Bạng nằm ở xã Hải Thanh, Tĩnh Gia, Thanh Hóa là mảnh đất mà Tin Mừng được đón sớm nhất ở Đàng Ngoài ngày 19.3.1627 do cha Đắc Lộ đến rao giảng.

 Lm Gioan VÕ ĐÌNH ĐỆ

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Biển xanh vỗ về tình bạn
Biển xanh vỗ về tình bạn
Một buổi chiều mùa hè, tôi ngồi trên bãi cát, hướng mắt ra đường chân trời xa tắp - nơi màu xanh của biển và bầu trời hòa lẫn làm một.
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Giữa mảng xanh rộng lớn của khuôn viên nhà thờ Thánh Tâm, giáo hạt Hố Nai, GP Xuân Lộc, có nhiều bức tượng lớn với gam màu sáng.
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nhà thờ Suối Tre (giáo phận Xuân Lộc) do kiến trúc sư người Pháp vẽ mẫu vào khoảng năm 1958. Công trình được thi công trong giai đoạn 1961-1963, sử dụng nhiều vật liệu nhập từ Pháp như khung sắt và chuông.
Biển xanh vỗ về tình bạn
Biển xanh vỗ về tình bạn
Một buổi chiều mùa hè, tôi ngồi trên bãi cát, hướng mắt ra đường chân trời xa tắp - nơi màu xanh của biển và bầu trời hòa lẫn làm một.
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Giữa mảng xanh rộng lớn của khuôn viên nhà thờ Thánh Tâm, giáo hạt Hố Nai, GP Xuân Lộc, có nhiều bức tượng lớn với gam màu sáng.
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nhà thờ Suối Tre (giáo phận Xuân Lộc) do kiến trúc sư người Pháp vẽ mẫu vào khoảng năm 1958. Công trình được thi công trong giai đoạn 1961-1963, sử dụng nhiều vật liệu nhập từ Pháp như khung sắt và chuông.
Thử nhìn bằng góc nhìn của người khác
Thử nhìn bằng góc nhìn của người khác
Hồi còn nhỏ, nhà tôi có một cái bàn gỗ đặt gần cửa sổ, trên bàn có đủ thứ đồ, khi thì tập sách của anh em tôi, lúc lại là mấy cái điều khiển tivi mà chúng tôi cầm nhầm từ phòng khách làm người lớn cứ đi phải...
Nhà thờ bên đập nước
Nhà thờ bên đập nước
Đập Tam Giang là một công trình thủy lợi, và là thắng cảnh đẹp thu hút nhiều du khách đến thăm vùng quê thuộc địa phận huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên (cũ). Đập này được xây dựng chắn ngang con sông Cái - là nơi 3 dòng sông được...
Đến và trở về với Chúa
Đến và trở về với Chúa
Tôi từng nghĩ mình hiểu thế nào là đứng trước nỗi đau của một người khác, cho đến ngày mẹ của một người bạn tôi qua đời. Nhớ lại những ngày đầu năm 2026, đó là lúc chúng tôi đang trong kỳ thi cuối năm ba đại học.
Thánh tích Mẹ Têrêsa Calcutta tại giáo xứ Thanh Đa
Thánh tích Mẹ Têrêsa Calcutta tại giáo xứ Thanh Đa
Giáo xứ Thanh Đa (TGP TPHCM) từng đón tiếp Mẹ Têrêsa Calcutta hai lần vào các năm 1993 và 1994. Hiện nay, nhà thờ lưu giữ nhiều thánh tích của Mẹ, như tóc, máu và mảnh áo.
Thanh Hóa chuyện xưa  dấu cũ
Thanh Hóa chuyện xưa dấu cũ
Có một đặc điểm chung của những ngôi nhà thờ cổ được xây dựng ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, là dù có mặt tiền theo kiểu truyền thống hay một phong cách nào đó của châu Âu, thì kết cấu bên trong...
Y Vân và ca khúc bất hủ về mẹ
Y Vân và ca khúc bất hủ về mẹ
Trong kho tàng âm nhạc (tân nhạc) Việt Nam, có thể nói ca khúc Lòng Mẹ của Y Vân là một tác phẩm bất hủ. Nhiều người ví von đó là một bản “quốc ca” về tình mẫu tử - không chỉ bởi giai điệu mượt mà, lời ca giàu...