Bảo tàng Đất Thánh Jerusalem đang lưu giữ những hiện vật làm minh chứng cho nhiều câu chuyện trong Thánh Kinh và giai đoạn đầu sau khi Kitô giáo ra đời.
1. Quan tài đá Giôna

Cỗ quan tài đá này thuộc về một Kitô hữu sống tại Rome vào thế kỷ thứ tư tên Glycon, bên trên khắc họa tổng cộng 3 cảnh trong Sách Ngôn sứ Giôna. Cảnh bên trái mô tả nhà tiên tri Giôna bị ném khỏi thuyền vào miệng một con cá khổng lồ. Ở bên phải, ông Giôna được con cá mửa ra trên đất liền, nơi Thiên Chúa dạy dỗ ông: “Ngươi, ngươi thương hại cây thầu dầu mà ngươi đã không vất vả vì nó, và không làm cho nó lớn lên; trong một đêm nó đã sinh ra, rồi trong một đêm lại chết đi. Còn Ta, chẳng lẽ Ta lại không thương hại Ninivê, thành phố lớn, trong đó có hơn một trăm hai mươi ngàn người không phân biệt được bên phải với bên trái, và lại có rất nhiều thú vật hay sao?”.
Theo Phúc Âm thánh Mátthêu, câu chuyện trên về ông Giôna được xem như hình ảnh báo trước cho sự phục sinh sau này của Chúa Giêsu, sau khi Người chịu đóng đinh trên thập tự giá: “Cũng như xưa tiên tri Giôna ở trong bụng cá ba đêm ngày thế nào, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba đêm ngày như vậy”.
2. Tượng thiên thần Kêrubim bằng ngà voi

Hình ảnh thiên thần Kêrubim (Cherubim, Minh Thần) xuất hiện trong cả Nhà Tạm và trong Đền thờ, được nhắc đến trong Sách Các Vua và Sách Xuất hành: “Trong Nơi Cực Thánh, vua làm hai Kêrubim bằng gỗ ô liu, cao năm thước. Một cánh của một Kêrubim dài hai thước rưỡi, cánh kia cũng hai thước rưỡi; thành ra từ đầu cánh này tới đầu cánh kia là năm thước. Kêrubim thứ hai cũng đo được năm thước; hai Kêrubim có một kích thước và hình thể như nhau”; “Ông làm hai tượng Kêrubim bằng vàng, ông làm bằng vàng gò và đặt ở hai đầu nắp: một tượng ở đầu này, một tượng ở đầu kia. Ông làm các tượng Kêrubim gắn liền với nắp, ở hai đầu. Các tượng Kêrubim có hai cánh giương lên và phủ trên nắp. Hai tượng đối diện nhau, cùng cúi mặt xuống nắp”. Trong khi những mô tả về những thiên thần đến nay vẫn còn khá mơ hồ, Bảo tàng Đất Thánh Jerusalem đang có một tượng Kêrubim bằng ngà voi theo phong cách nghệ thuật Phoenicia. Hiện vật được tìm thấy tại Arslan Tash (miền Bắc Syria, thành cổ Hadatu), có niên đại khoảng 850-800 Trước Công nguyên. Hình mẫu Kêrubim có lẽ được gọi là kuribu trong tiếng Akkad, nhiều khả năng từng được dùng để trang trí một cái ghế, có thể là ngai vàng của Hazael, vua Damascus. Đây là nhân vật đã được nhắc đến trong sách Các Vua, Sách Sử biên niên I và II, Sách tiên tri Amos.
3. Quan tài đá Christogram

Quan tài đá Christogram là loại quan tài La Mã cỡ lớn, thuộc về một phụ nữ theo đạo Kitô tên Julia Latronilla. Bà qua đời khoảng năm 330, không lâu sau khi Hoàng đế La Mã Constantine ban hành Sắc lệnh Khoan dung. Còn được biết đến rộng rãi với tên Sắc lệnh Milan, văn kiện này cho phép các Kitô hữu được tự do thờ phượng và chấm dứt tình trạng bách hại những người theo đạo.
Quan tài khắc họa nhiều cảnh trong Cựu Ước lẫn Tân Ước, như việc tổ phụ của dân Israel là Abraham suýt hiến tế con trai độc nhất Isaac; phép lạ tại tiệc cưới Cana khi Chúa Giêsu biến nước thành rượu; và Chúa Giêsu tiến vào Jerusalem, được dân chúng reo hò, chúc tụng. Hình tròn ở trung tâm là một trong những minh họa sớm nhất được biết đến của biểu tượng Chi-Rho, bao gồm hai chữ cái đầu tiên của Christos (ΧΡΙΣΤΟΣ, tức Kitô) trong tiếng Hy Lạp - Chi (Χ) và Rho (Ρ).
4. Bia đá Rab-Shaqeh

Sách Các Vua 2 (18,18-37) ghi chép sự kiện năm 701 TCN, một quan chức Assyria mang tước hiệu Rab-Shaqeh - chánh chước tửu - đã có hành động chế giễu người Jerusalem. Và Bảo tàng Đất Thánh Jerusalem đang lưu giữ một tấm bia đá được dựng lên theo lệnh của một Rab-Shaqeh khác. Vị quan này phục vụ trong triều đại vua Shalmaneser III, trước Rab-Shaqeh được đề cập trong Thánh Kinh khoảng 150 năm, tức từ năm 859 đến 825 TCN. Dòng chữ khắc trên bia ghi lại những chiến tích và thành tựu của Rab-Shaqeh trong phạm vi do ông quản lý.
5. Thuyền sông Nile

Sông Nile đóng vai trò quan trọng trong Cựu Ước, đặc biệt trong câu chuyện Xuất hành. Vị pharaoh đã mơ thấy những con bò bên bờ sông Nile (Sách Sáng thế 41,1-3); đứa bé được đặt trong chiếc thúng cói đặt trong đám lau sậy ở bờ sông (Sách Xuất hành 2,3); và tai họa đầu tiên giáng xuống Ai Cập xảy ra khi nước sông Nile hóa thành máu (Sách Xuất hành 7,15-24).
Bảo tàng hiện lưu giữ một mô hình thuyền trên sông Nile làm từ gỗ, thạch cao và vải lanh, có niên đại vào đầu thời Trung Vương quốc Ai Cập (khoảng năm 2000-1900 TCN). Con thuyền có một hoa tiêu đứng ở mũi, một người lái ngồi ở đuôi và 18 tay chèo ở giữa. Thiết kế của con thuyền cho phép xuôi dòng về phía bắc, hoặc ngược dòng về phía nam. Những con thuyền như thế này thường được đặt bên trong các lăng mộ để sẵn sàng cho cuộc hành trình trình của người trong mộ sau khi qua đời.
LING LANG
Bình luận