Ðọc thơ Bùi Thúc Trinh (1811 - 1891), sáng mãi một tấm lòng...

Thời gian tạm nghỉ làm báo để phòng chống dịch bệnh, tình cờ trong lúc soạn lại sách vở cũ, tôi bắt gặp tập thơ chữ Hán của Bùi Thúc Trinh kèm theo một lá thư giới thiệu gởi linh mục Trương Bá Cần - lúc bấy giờ là Tổng Biên tập báo CGvDT của cụ Phương Châu Ðoàn Ngọc Phan, Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Nam Ðịnh.

… Hồi ức dẫn tôi trở về 20 năm trước, trong lúc làm việc tại tòa soạn, cha Tổng có chuyển cho tôi tập thơ này với ý muốn tôi viết bài giới thiệu. Tôi nhận tập thơ cũng định viết một bài nhỏ bởi tác giả, theo như lời giới thiệu, vừa là một bậc túc nho lại vừa là một danh y Công giáo, nhưng rồi nhiều công việc lôi cuốn đã làm tôi quên bẵng… Nay cả cha cố Trương Bá Cần và người gởi tập thơ cũng đã đi xa, tôi mới định tâm để viết, hồi đáp phần nào niềm mong đợi của người xưa.

Theo lời giới thiệu, nhà thơ Bùi Thúc Trinh (1811 - 1891) tên chữ là Anh Xuyên tục gọi Nhất Trung, quê ở thôn Trung Cường, xã Quần Anh hạ, phủ Thiên Trường, huyện Chân Ninh, tỉnh Nam Ðịnh (nay thuộc xóm Ðông Cường, thị trấn Yên Ðịnh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Ðịnh). “Ông là bậc túc nho, nhưng có lẽ vì gia đình ông là “bổn đạo” mới theo Thiên Chúa giáo, mà triều đình lúc đó đang cấm ngặt, nên ông phải lận đận về đường khoa cử. Sau ông chuyên tâm nghiên cứu y học, trở thành một vị danh y. Ông đào tạo cho đời được nhiều thầy thuốc giỏi và là một tác giả lỗi lạc, cống hiến cho nền y học nước nhà sáu bộ sách vô cùng quý giá” (trích lời giới thiệu).

Tập thơ “Di nhàn tập” của Bùi Thúc Trinh do cụ Phương Châu Ðoàn Ngọc Phan dịch và giới thiệu, Hội Văn học Nghệ thuật Nam Ðịnh xuất bản, gồm 25 bài thơ chữ Hán theo thể Ðường luật thất ngôn bát cú; với phần chữ Hán viết tay, phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ công phu. Ðọc thơ ông, ta nghe như có tiếng đồng vọng từ ngàn xưa - tiếng của “những người muôn năm cũ” (thơ Vũ Ðình Liên (1913 - 1996))… làm sống dậy trong ta những tình tự quê hương dân tộc. Nội dung các bài thơ sáng tỏ một tấm lòng nhiệt huyết yêu nước thương dân của một nhà nho chân chính giữa thời buổi nhiễu nhương tao loạn.

Lúc thì ông bộc lộ tâm sự kín đáo vì hoàn cảnh éo le phải lận đận đường khoa cử (xin xem lời giới thiệu), chưa thực hiện được chí nguyện hoài bão:

“Bỉ thương tương dục ngọc thành dư?, Thập độ tư lường cửu bất như. Bán thế Nho khoa danh vị toại, Kỷ niên Y dược thuật hoàn sơ” (Xanh (trời) kia, hầu muốn trau chuốt ngọc (con người) chăng?, Mười phen trù tính (thì) chín phen không được như (ý định). Nửa đời người (theo đuổi) khoa Nho học, danh chưa toại, Mấy năm (nghiên cứu) Y dược, nghệ thuật còn sơ sài). (bài Bệnh trung cảm tác - Cảm tác trong khi ốm).

Khi lại day dứt với tâm trạng “ưu thời mẫn thế”:

“Nhật điều Hiên đỉnh nan y tục, Thời học Nhan biều liễu lạc bần. Phất hiểu hòe âm song vũ trưởng, Kinh thu tùng cốt bán sương duân” (Ngày ngày điều luyện vạc thuốc của Hiên Viên khó chữa được tục xấu, Lúc nào cũng học đeo bầu nước như Nhan Hồi tạm vui với nghèo. Bóng cây hòe phe phẩy buổi sáng sớm, cả đôi đều trải qua mưa mà lớn thêm, Xương cây tùng trải qua mùa thu, một nửa đẫm sương). (bài Bệnh trung ngẫu tác ký Nguyễn Trứ phủ - Ngẫu tác trong khi ốm gởi Nguyễn Trứ phủ). Hai hình ảnh “nhà nho” và “lương y” kết hợp hài hòa trong cùng một con người thơ Bùi Thúc Trinh. Tứ thơ mang nỗi buồn vì thế sự nhưng không bi lụy, mà vẫn giữ cốt cách mạnh mẽ, phẩm hạnh nhà nho với cái nhìn tích cực về cuộc sống.

Ðặc biệt, “Di nhàn tập” còn là những lời thơ “cận nhân tình”, gián tiếp gợi lên hình ảnh cuộc sống khó khăn của người dân. Ông đồng cảm xót xa cho những cảnh đời hoạn nạn nghèo đói vì bị thiên nhiên tàn phá, để rồi lời thơ như một tiếng kêu thương bi phẫn:

“Mễ ngọc do truyền Tô Tử thoại, Nang tiền ưng tiếu Nguyễn Khanh tu…Giải đạo dân thiên như hử thiết, Niên phùng Ất Sửu nguyệt phùng thu” (Gạo đắt như ngọc còn truyền lại chuyện Tô Tần, Túi rỗng không tiền đáng cười sự xấu hổ của Nguyễn Tu… Nếu bảo là dân của trời mà quẫn bách quá thế chăng? Năm gặp Ất Sửu tháng gặp mùa thu). (bài Thu thiên cảm tác, kỳ nhất - Trời thu cảm tác, bài 1). Tác giả ghi lại thảm cảnh sau trận bão vỡ đê Ðông xảy ra vào năm Ất Sửu (1865) thời Tự Ðức. Tình cảnh nhà cửa trôi dạt, nhiều người bị chết đuối, chết đói, chết bệnh (theo Chú thích).

Những tình tự dân tộc trên như đã bắt nguồn từ tình yêu quê hương đất nước. Thế nên, thơ ông còn là những cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp như một bức tranh thủy mặc huyền ảo:

“Giao duyên hồi chuyển mai đình bắc, Yên vụ mê li trúc ổ đông. Thanh phú miêu vân thiên tễ hậu, Lục phù áp trướng vũ thu trung” (Ðồng ruộng quẩn quanh bên phía bắc sân mai, Sương mù mờ mịt phía đông lũy tre. Mây xanh úp lên lúa sau khi trời vừa tạnh, Nước biếc nổi lên đàn vịt khi mưa xong). (bài Thu thiên chu hành quá Trung xã giang phận diểu vọng Nguyễn gia trang hữu hoài nhưng ký chủ nhân - Trời thu đi thuyền nhỏ đến khúc sông thuộc xã Trung ngắm nhìn trang trại họ Nguyễn cảm tác gởi chủ nhân). Hình ảnh làng quê Việt Nam gần gũi với cuộc sống người dân được nhà thơ chọn lọc liệt kê, phối cảnh sắp xếp cao - thấp, gần - xa đặc sắc, tưởng như ông còn là một họa sĩ tài hoa.

Bên cạnh đó, tình bằng hữu sâu đậm cũng là một vẻ đẹp trong thơ Bùi Thúc Trinh:

“Tằng thử lâm phong tưởng túc âm, Chi thất nhất tiêu tâm cộng chiếu” (Nhiều lúc nghe động lại tưởng là tiếng chân ông đến, Một đêm ở nhà hoa chi cùng rõ lòng nhau). (bài Họa thuật nhân Trần Lĩnh phủ tựu gia hữu thi kiến tặng - Thuật nhân là Trần Lĩnh phủ đến nhà chơi, có thơ tặng, họa đáp lại). Ông bộc lộ mối chân tình thâm giao với người bạn hiền bằng một tứ thơ lạ - nghe tiếng gió nhẹ (lâm phong) lại tưởng tiếng chân người thân quen. Tiếng gió lay động mà nhà thơ cảm nhận càng làm nổi bật khung cảnh trầm mặc u tĩnh. Ở đây nghệ thuật phối hợp tĩnh - động làm cho không gian trở nên sâu lắng tài tình. Hay thư gởi bạn Hoằng Hiên:

“Cường Trung dạ tĩnh thôi ngâm độc, Nam Thượng thiên dao ức thoại song. Ký viễn hữu thi, thi tứ sáp. Dạ tương tâm dữ thủy tông tông” (Ðêm lặng lẽ ở Cường Trung giục ngâm thơ một mình, Nhìn trời xa Nam Thượng nhớ nói chuyện tay đôi. Xin gởi tới người xa một bài thơ, nhưng ý thơ khô quánh. Tấm lòng ta với nước đồng hồ gạo cùng nhỏ giọt tong tong). (bài Ký Hoằng Hiên - Gởi Hoằng Hiên). Lời thơ giãi bày tâm sự của ông làm ta cảm thông được nỗi buồn cô đơn xa bạn, một nỗi buồn sầu nhớ trống vắng. Niềm vui thì thời gian qua nhanh nhưng nỗi buồn trĩu nặng thì thời gian đọng lại như chiếc đồng hồ nước đếm chậm từng giọt một.

Như cụ Phương Châu Ðoàn Ngọc Phan đã giới thiệu: “Tìm hiểu “Di nhàn tập” chúng ta sẽ thấy được tấm lòng ưu ái của ông đối với thiên nhiên, với quê hương đất nước, với nhân dân tha thiết là dường nào”, thơ Bùi Thúc Trinh để lại trong lòng ta nỗi u hoài luyến nhớ người xưa về những giá trị tinh thần, nhân cách, phẩm hạnh; những giá trị của vũ trụ thơ chân - thiện - mỹ, nhằm di dưỡng tâm hồn dân tộc cho hậu thế mai sau.

MAI CHI

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Phải thay đổi từ gốc rễ
Phải thay đổi từ gốc rễ
Những con số mất cân bằng giới tính khi sinh gợi lên nỗi lo về cơ cấu dân số, đồng thời đặt ra câu hỏi chúng ta đã ứng xử thế nào với phẩm giá con người.
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Trong cuộc sống, trước một vấn đề chưa biết cách tháo gỡ, một quyết định còn nhiều phân vân, hay những nỗi niềm khó giãi bày, mỗi người lại có cách tìm kiếm lời khuyên riêng.
Sách “chữa lành” trong đời sống đức tin
Sách “chữa lành” trong đời sống đức tin
Bên cạnh những tựa sách kinh nguyện hay suy niệm, các nhà sách Công giáo hiện nay đã có nhiều tựa sách hướng đến những vấn đề rất đời thường của con người, từ tổn thương tinh thần, cảm giác lo âu, đến việc hiểu và chấp nhận bản thân,...
Phải thay đổi từ gốc rễ
Phải thay đổi từ gốc rễ
Những con số mất cân bằng giới tính khi sinh gợi lên nỗi lo về cơ cấu dân số, đồng thời đặt ra câu hỏi chúng ta đã ứng xử thế nào với phẩm giá con người.
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Tìm ai khi lòng đang băn khoăn?
Trong cuộc sống, trước một vấn đề chưa biết cách tháo gỡ, một quyết định còn nhiều phân vân, hay những nỗi niềm khó giãi bày, mỗi người lại có cách tìm kiếm lời khuyên riêng.
Sách “chữa lành” trong đời sống đức tin
Sách “chữa lành” trong đời sống đức tin
Bên cạnh những tựa sách kinh nguyện hay suy niệm, các nhà sách Công giáo hiện nay đã có nhiều tựa sách hướng đến những vấn đề rất đời thường của con người, từ tổn thương tinh thần, cảm giác lo âu, đến việc hiểu và chấp nhận bản thân,...
Đồng hành với những tổn thương trong tâm hồn
Đồng hành với những tổn thương trong tâm hồn
Có những nỗi đau không dễ gọi thành tên, ẩn sau những con người vẫn chu toàn công việc, chăm sóc gia đình hay miệt mài trong sứ vụ. Đó có thể là trầm cảm, lo âu, sang chấn tâm lý hoặc những khủng hoảng âm thầm không biết chia...
Lãnh đạo TPHCM thăm Tòa Giám mục Giáo phận Phú Cường
Lãnh đạo TPHCM thăm Tòa Giám mục Giáo phận Phú Cường
Ngày 27.10, đoàn công tác Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM do ông Nguyễn Phước Lộc, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM làm trưởng đoàn, đã đến thăm Đức cha Giuse Nguyễn Tấn Tước,...
Nhìn lại hành trình mở cõi qua những dấu tích từ tiền nhân
Nhìn lại hành trình mở cõi qua những dấu tích từ tiền nhân
Tọa đàm “Hiền Nhân Mở Cõi” diễn ra tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (số 2 Ter Lê Duẩn, phường Sài Gòn, TPHCM), trong khuôn khổ chuỗi hoạt động “Nếp nhà xưa: Mạch sống người Việt” do Trung tâm Lưu trữ quốc gia II phối hợp với Nếp...
Chính sách an sinh hướng đến người già neo đơn
Chính sách an sinh hướng đến người già neo đơn
Thủ tướng vừa ban hành kế hoạch thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế. Bên cạnh mô hình nhà xã hội dành cho người cao tuổi neo đơn, còn đề cập việc phát triển các điểm chăm sóc ban ngày, dịch vụ chăm sóc...
Từ “Nhật ký truyền giáo” đến “Lá rụng về cội”
Từ “Nhật ký truyền giáo” đến “Lá rụng về cội”
Những bài viết của linh mục Piô Ngô Phúc Hậu bắt đầu xuất hiện trên báo Công giáo và Dân tộc từ số 889, ra ngày 3.1.1993, với bài “Giáo xứ Capharnaum”, mở đầu mục Nhật ký truyền giáo. Các bài trong mục này được đăng hằng tuần, sau đó...
Dấu chân trên bước đường truyền giáo
Dấu chân trên bước đường truyền giáo
Sự ra đi của linh mục Piô Ngô Phúc Hậu để lại nhiều thương nhớ trong lòng những người từng gặp gỡ, cộng tác hay được nuôi dưỡng đức tin qua các trang sách của ngài.