HỌC HỎI PHÚC ÂM CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN - NĂM C

Lc 15,1-32

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ, phụ trách

1. Tìm những điểm chung có trong ba dụ ngôn chiên lạc, đồng bạc bị mất và người cha nhân hậu. Tại sao Đức Giêsu kể ba dụ ngôn này?

2. Kể lại con đường từ hư hỏng đến hoán cải của người con thứ.

3. Người con thứ có hoán cải thực lòng không? Lòng hoán cải của anh có từ từ trở nên trọn vẹn không?

4. Tìm những hành động và lời nói cho thấy người cha tôn trọng và yêu thương tha thứ cho người con thứ.

5. Tìm những hành động và lời nói cho thấy người cha tôn trọng và yêu thương tha thứ cho người con cả.

6. Tìm những nét giống nhau giữa con thứ và con cả.

7. Đọc Lc 15,1-32. Bạn thấy ai là hình ảnh của người Pharisêu và các kinh sư trong đoạn Kinh Thánh trên?.

8. Khi đọc dụ ngôn người cha nhân hậu, bạn có gặp thấy những nét quan trọng của Bí Tích Hòa Giải (Giải Tội) không?


CÂU HỎI SUY NIỆM:

Bạn thấy mình giống con thứ hay con cả? Theo bạn, người con thứ trở về nhà cha có khó không? Người con cả chấp nhận vào nhà để dự tiệc với người em và chung vui với cha có khó không? Trở về với Cha có đòi ta trở về với anh em không?


PHẦN TRẢ LỜI

1. Một vài điểm chung giữa ba dụ ngôn: con chiên lạc (Lc 15,4-7), đồng bạc bị mất (Lc 15,8-10) và người cha nhân hậu (Lc 17,11-32). Hai dụ ngôn đầu tiên có điểm chung giữa người đàn ông mất chiên và người phụ nữ mất tiền. Đó là cả hai đều đã mất (một con chiên hay một quan tiền), đã đi tìm, đã tìm thấy, và mời bạn bè hành xóm đến chung vui với mình. Hai dụ ngôn này còn khá giống nhau ở câu cuối của mỗi dụ ngôn: “…ai nấy cũng vui mừng vì một người tội lỗi hối cải” (cc.7 và 10). Đây là niềm vui của những người “ở trên trời” (c.7), hay của “triều thần Thiên Chúa” (c.10). Dụ ngôn thứ ba, tuy không dùng những từ giống với hai dụ ngôn trước, nhưng cũng có thể nói người cha đã mất con, đã gặp lại con, và đã mở tiệc ăn mừng (Lc 15,11-32). Đức Giêsu kể ba dụ ngôn này để đáp lại chuyện những người Pharisêu và các kinh sư trách Ngài đã đón tiếp và ăn uống với người tội lỗi (Lc 15,1-3). Đơn giản Ngài chỉ muốn đưa họ về với Cha.

2. Người con thứ hư hỏng một cách từ từ. Anh chán sống bên cha, đòi cha chia phần gia sản cho anh (1/3 tài sản). Anh muốn đi đến một “vùng xa”, nơi anh được hưởng thụ phung phí tài sản do cha để lại. Nhưng không ngờ, “vùng xa” đó lại là “vùng đói khủng khiếp” (c.14), vùng anh phải làm một nghề hạ tiện là chăn heo (c.15), vùng nơi cái chết đói rình rập (c.17). Chính hoàn cảnh bi đát đó khiến anh hồi tâm, ăn năn và muốn trở về nhà cha mình.

3. Người con thứ muốn trở về nhà cha mình khi anh thấy nguy cơ chết đói (c.17). Từ đó anh quyết định trở về nhà cha, để được no đủ, nhờ làm công cho cha. Tuy nhiên, đó không phải là lý do duy nhất khiến anh trở về, bởi lẽ anh đã bắt đầu có lòng ăn năn về tội của mình (Lc 15,18-19). Lòng hoán cải của anh tuy còn chút vị kỷ, nhưng không hề giả dối. Có lẽ khi được người cha ôm hôn, anh mới cảm nhận được tình thương bao la của cha, và lúc đó anh có được lòng hoán cải trọn vẹn.

4. Người cha tôn trọng người con thứ được biểu lộ qua việc người cha không đi tìm anh như người đi tìm con chiên hay đồng quan. Cha chỉ chờ đợi anh trở về vì cha tôn trong tự do của anh. Người cha yêu thương tha thứ cho người con thứ, điều này được biểu lộ qua việc ông “chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh mà hôn” (c.20). Sau đó ông còn cho anh áo đẹp nhất, nhẫn, dép, và nhất là mở tiệc ăn mừng với con bê béo (cc. 22-23). Động từ ăn mừng được nhắc nhiều lần (Lc 15,23.24.29.32).

5. Người cha tôn trọng người con cả: khi thấy anh “nổi giận không chịu vào nhà” (c. 28), chính người cha đã đi ra và đã năn nỉ anh để anh vào. Người cha đã đón nhận cách bình tĩnh cơn giận của anh, đã nghe lời trách móc đầy ghen tỵ của anh (c. 29), và đã chịu đựng những lời lẽ hỗn hào của anh (c. 30). Ông cho thấy ông chẳng giữ gì cho mình (c. 31), và ôn tồn giải thích cho anh ấy hiểu tại sao phải ăn mừng (c. 32). Thái độ của người cha cho thấy ông yêu người con cả, người đã ở với ông và làm việc cho ông dù không hiểu ông. Ông không muốn thiếu người con cả trong bữa tiệc vui này. Ông không muốn mất một người con nào.

6. Con thứ và con cả thật khác nhau, nhưng khi nhìn kỹ, hai khuôn mặt lại có những nét giống nhau. Người thì bỏ nhà ra đi, kẻ thì không chịu vào nhà. Cả hai đều phải chịu đói nếu cứ đứng ngoài nhà cha. Con thứ xa cha, nhưng con cả cũng chẳng gần cha. Tim anh ấy không đập cùng một nhịp với tim cha: khi cha vui vì con thứ về, thì anh lại buồn. Anh không vui được niềm vui của cha. Anh tự hào vì mình không trái lệnh cha (c.29) nhưng anh lại rất xa cha vì không hiểu nổi cách cư xử của cha (c.30). Con thứ thật bất hiếu với cha khi đòi cha chia gia tài và phung phí hết sạch, nhưng con cả cũng hỗn hào khi gọi em mình là “thằng con của cha” (c.30).

7. Có thể nói, người con cả trong dụ ngôn là hình ảnh của các ông Pharisêu và các kinh sư. Họ là những người được coi là đạo đức, sống tách biệt với các tội nhân, và thường tự hào vì mình “đã hầu hạ cha bao năm và chẳng bao giờ trái lệnh” (Lc 15,29). Người con cả khó chịu khi thấy cha mình đón tiếp đứa con thứ trở về, các ông Pharisêu cũng khó chịu khi thấy Đức Giêsu đón tiếp và ăn uống với tội nhân (Lc 15,1-2).

8. Qua chuyện người con thứ trở về với cha, ta thấy có những nét chính của bí tích Hòa giải. Anh con thứ đã hồi tâm, nghĩa là đã xét mình (c. 17). Anh đã ăn năn tội trong lòng và đã nói với cha câu này: “Con thật đắc tội với Trời và với cha…” (cc. 18.21). Anh đã nghĩ đến việc đi xưng tội và đã thực hiện điều anh nghĩ: “Thôi ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với Người rằng…” (cc. 18.20). Anh đã đề nghị việc đền tội: “Xin coi con như người làm công cho cha” (c.19). Cuối cùng là ơn xá giải: người cha tha thứ cho anh, không phải bằng lời nói, nhưng bằng cách ôm lấy anh và trả lại cho anh tất cả những gì anh đã mất khi đi hoang, trả lại cho anh chức vị làm con (cc. 20-24). Dụ ngôn không nói về việc anh dốc lòng chừa, nhưng chúng ta hy vọng anh sẽ không bao giờ đi hoang nữa.

Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Học hỏi Phúc Âm - Lễ Các Thánh
Học hỏi Phúc Âm - Lễ Các Thánh
Trong các mối phúc này, bạn thích sống mối phúc nào nhất? Tại sao Giáo hội luôn đọc bài Tin Mừng về các mối phúc trong ngày lễ Các Thánh? 
Phúc thay
Phúc thay
Trong Tông huấn về ơn gọi nên thánh Gaudete et Exsultate, Đức cố Giáo Hoàng Phanxicô đã nói về các Mối Phúc (số 63-94). Ngài viết: “Từ “hạnh phúc” hay “được chúc phúc” trở thành từ đồng nghĩa với “thánh thiện” (số 64).
Bất tử - tính bất tử
Bất tử - tính bất tử
Tính bất tử là phẩm tính tồn tại mãi mãi của Thiên Chúa và các thực tại thiêng liêng.
Học hỏi Phúc Âm - Lễ Các Thánh
Học hỏi Phúc Âm - Lễ Các Thánh
Trong các mối phúc này, bạn thích sống mối phúc nào nhất? Tại sao Giáo hội luôn đọc bài Tin Mừng về các mối phúc trong ngày lễ Các Thánh? 
Phúc thay
Phúc thay
Trong Tông huấn về ơn gọi nên thánh Gaudete et Exsultate, Đức cố Giáo Hoàng Phanxicô đã nói về các Mối Phúc (số 63-94). Ngài viết: “Từ “hạnh phúc” hay “được chúc phúc” trở thành từ đồng nghĩa với “thánh thiện” (số 64).
Bất tử - tính bất tử
Bất tử - tính bất tử
Tính bất tử là phẩm tính tồn tại mãi mãi của Thiên Chúa và các thực tại thiêng liêng.
An ủi
An ủi
Sự an ủi và tái cam kết đối với những ai đang bị suy sụp âu lo hay cùng quẫn, là góc độ cốt yếu trong các tương quan nhân loại. Thánh Kinh công bố Thiên Chúa an ủi dân Ngài lúc họ bị quẫn bách.
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật XXX thường niên - năm A
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật XXX thường niên - năm A
Đức Giêsu tóm tất cả Luật và các sách Ngôn sứ trong Cựu Ước vào hai điều răn: yêu Thiên Chúa và yêu tha nhân (Mt 22,40). Theo ý bạn, yêu là gì? Yêu Chúa với cả trái tim có khó không? Yêu tha nhân như yêu mình có khó...
Điều cốt lõi của Tin Mừng
Điều cốt lõi của Tin Mừng
Điều răn thứ nhất là điều răn lớn; Điều răn thứ hai cũng quan trọng không kém. Có nghĩa là hai giới răn ấy không cho phép ta tùy thích. Tình yêu mà những giới răn ấy nói tới, đối với Thiên Chúa cũng như đối với tha nhân, không...
Targum
Targum
Targum là bản dịch diễn giải Thánh Kinh Do Thái giáo sang tiếng phổ thông, mà thường là tiếng Aram.
Pharisêu/ biệt phái
Pharisêu/ biệt phái
“Khi nghe tin Chúa Giêsu đã làm cho nhóm Xađốc phải câm miệng, thì những người Pharisêu họp nhau lại” (Mt 22,34).
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật XXIX thường niên - năm A
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật XXIX thường niên - năm A
“Hãy trả lại cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa”. Theo bạn có cái gì trên đời mà không phải là của Thiên Chúa không? “Trả lại cho Thiên Chúa” nghĩa là gì? Con người hôm nay đã đánh cắp của Thiên Chúa những gì?