Tản mạn cà phê và người lính

Có một thời, thập niên 1990, đi ngang các quán cà phê phía Bà Chiểu hay Bà Quẹo, thường nghe vẳng ra mấy câu hát “Mình, ba đứa hôm nay gặp nhau, nâng ly cà phê, với mùi hương ngạt ngào…”; hoặc “Cho tách cà phê, cô nàng xanh tóc/ Tôi uống đắng cay hay mắt em say…”. Cà phê là thức uống của đường phố, của cuộc sống phong trần, thức uống của những đêm cần thức trắng… Có lẽ bởi người lính từng trải qua đủ các trạng thái này nên hầu như cuộc sống của họ thường gắn với ly cà phê và điếu thuốc. Vài lời ca khúc trên nói lên điều đó.

191046.jpeg (10.04 MB)

Ông anh tôi đi bộ đội khi đã hơn hai mươi tuổi, huấn luyện ở quân trường xong là đi thẳng qua chiến trường Campuchia tham gia chiến dịch đuổi Polpot ra khỏi Phnompenh. Anh mê cà phê từ hồi còn trẻ như mọi đàn ông trong nhà, quen uống loại ngon mua ở tiệm, xay hạt đã rang tại chỗ với cà phê vối (tức loại Robusta) trộn với cà phê Moka, thành một thứ bột cà phê tuyệt hảo thơm phức. Đến khi vào lính năm 1978, sớm bứt ra khỏi thành phố, hai năm ở chiến trường khiến anh quên luôn vị cà phê quen thuộc. Lần về phép đầu tiên sau nhiều tháng ở xa nhà, anh cùng người bạn là một họa sĩ ra quán cà phê nhỏ ở Phú Nhuận và gọi ngay ly cà phê đen ít đường. Chất cafein khiến anh tỉnh táo và sảng khoái, mỗi tế bào vị giác và khứu giác của anh như làm việc hết công sức để tận hưởng hương vị cà phê vốn thiếu vắng đã lâu. Nhưng uống một hồi, anh mới nhận ra sao nó có gì đó hơi xa với thương vị cà phê đã uống hồi mới lớn cùng gia đình. Đây cũng là cà phê, nhưng nó lạ lạ từ vị đến hương… Sau đó là vài lần đi uống ở những quán khác, vẫn tìm không ra hương vị cà phê của riêng mình. Bạn anh giải thích trong bột cà phê pha ở quán có chút cà phê, chút bột bắp, chút bột đậu nành và gì gì đó khiến nó vẫn đắng, vẫn sánh, vẫn thoảng mùi vị cà phê, nhưng không phải là cà phê “gin”… Tiếng nhạc trong quán từ radio phát ra:“Màn đêm buông trên đường, hàng me lung linh ánh đèn, đêm nay đi bên em giữa lòng thành phố thân thương Ngày mai anh lên đường, ngày mai anh ra chiến trường…” bất chợt gợi cho anh nhớ ra thời sinh viên đã đi xa, thuở hay ngồi nhâm nhi cà phê nghe nhạc trẻ trong quán, nên hương cà phê xưa cũng phai nhạt như kỷ niệm trong ngày cũ. Bây giờ đã hơn bảy mươi tuổi, cảm xúc về những ly cà phê đợt về phép đó vẫn không phai, khi uống ly cà phê ngon mới xay theo công thức pha trộn ưa thích, anh lại lẩn thẩn nhớ hương vị ly cà phê pha bột bắp, vậy mới lạ!

Tôi có anh bạn đi bộ đội năm 1983, nhưng không phải ra chiến trường như anh tôi mà đóng quân quanh quẩn vùng rừng núi Bù Đăng, Bù Đốp, và vài nơi khác. Suốt hơn ba năm trong lính, lâu lâu có dịp ra thị trấn, anh mới có dịp uống cà phê trong quán lá, cũng là thứ cà phê pha sánh đặc có mùi ngai ngái vì bị độn. Đi lính về, hàng ngày anh uống lại cà phê thứ thiệt,  với ba của anh - một người chỉ ghiền cà phê, không thích uống trà, dù có gốc Hoa. Hai cha con hay uống cà phê ở nhà, do ba anh pha bằng vợt vải. Ông vẫn ra tiệm bán cà phê xay hột của ông người Hoa trong hẻm đối diện nhà thờ Tân Định, dặn bán cho cà phê nguyên chất, rất mắc lúc bấy giờ. Mỗi lần pha xong, mùi thơm tỏa lan cả xóm biết. Vậy nhưng cũng không được lâu, cha con lại rủ nhau ra quán lề đường, cà phê đương nhiên ngon không bằng nhưng rẻ hơn, không khí quán lại nhộn nhịp. Đôi lúc người ta ra quán cà phê không chỉ bởi cà phê, mà còn là cái chỗ ngồi.

Anh nói ba kể thời đi làm trước 1975, toàn uống cà phê hòa tan của Mỹ hiệu Maxwell House hay Folgers đựng trong chai thủy tinh, vị hơi chua nhưng uống cũng được, tuy không đã như cà phê Việt. Hai cha con đều là tín đồ cà phê, thả khói thuốc mù trời, chia sẻ những điều khác nhau trong những môi trường mà cả hai từng trải qua, dù khác thế hệ. Vài năm sau thì ba anh mất, khi chưa tới tuổi sáu mươi. Là con một, nhà vắng vẻ, anh bị hụt hẫng một thời gian, lại thui thủi ra quán một mình, uống thật chậm vì về nhà sớm lại thấy buồn. Những kỷ niệm lớn nhất của anh về cha, luôn thoang thoảng hương thơm của chất nước đắng này. Cà phê đã kết nối vô hình tình cảm hai cha con, những người đàn ông sống cách nhau mấy mươi năm.

Thời đang học trung học năm 1979, tôi là tân binh trải qua một tháng huấn luyện ở quân trường trong căn cứ Long Bình (sau đó vì mắt yếu nên được trả về để học tiếp). Trong thời gian này, mỗi ngày đám lính mới chúng tôi uống trà nấu từ lá mắc cỡ phơi khô, buổi tối vừa uống thức uống này vừa nhai những cục kẹo ú nấu làm bằng bột trộn mật đường mía có mùi gừng thơm. Một sáng chủ nhật, chị tôi lên thăm và trong quà của chị có gói cà phê bột mua ở chợ Bến Thành. Nước được nấu sôi, cà phê đổ vào ấm nước rồi rót ra cho mấy anh em trong tiểu đội mỗi người chuyền nhau uống vài ngụm không đường. Cả đám tỉnh cả người, mặt tươi hẳn lên như thấy lại nhịp sống đời thường. Chưa khi nào tôi thấy cà phê ngon như vậy và một anh bạn thời đó khi gặp lại, câu đầu tiên là nhắc đến kỷ niệm này.

Tôi đọc được đâu đó là chất nước uống độc đáo này ngẫu nhiên rất gắn bó với người lính. Cả hạt cà phê và người lính đều phải trải qua sự tôi luyện, đi qua lửa để tỏa hương mới khẳng định giá trị của mình. Cà phê phải trải qua quá trình rang xay, chịu nhiệt độ cao, nghiền nát, rồi lại chịu đựng nước sôi mới chắt lọc ra được những thứ tinh khiết thơm ngon. Người lính cũng phải vậy với nắng lửa thao trường, nắng gió biên cương, kỷ luật sắt đá. Còn là sự tương đồng giữa màu sắc nâu đen của cà phê và màu da người lính, là sự tỉnh thức của cả hai. Có lẽ những ý tưởng này do một người từng là người lính nghĩ ra. Đến giờ, tôi nghĩ chất cà phê lại tiếp tục tiếp sức cho chiến trường thời bình, đến với những người đang lăn lộn trên thương trường và sản xuất kinh doanh, khốc liệt không kém chiến trường khói lửa và cà phê đã giúp họ sự tỉnh táo cần thiết mỗi ngày.

PHẠM CÔNG LUẬN

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Biển xanh vỗ về tình bạn
Biển xanh vỗ về tình bạn
Một buổi chiều mùa hè, tôi ngồi trên bãi cát, hướng mắt ra đường chân trời xa tắp - nơi màu xanh của biển và bầu trời hòa lẫn làm một.
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Giữa mảng xanh rộng lớn của khuôn viên nhà thờ Thánh Tâm, giáo hạt Hố Nai, GP Xuân Lộc, có nhiều bức tượng lớn với gam màu sáng.
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nhà thờ Suối Tre (giáo phận Xuân Lộc) do kiến trúc sư người Pháp vẽ mẫu vào khoảng năm 1958. Công trình được thi công trong giai đoạn 1961-1963, sử dụng nhiều vật liệu nhập từ Pháp như khung sắt và chuông.
Biển xanh vỗ về tình bạn
Biển xanh vỗ về tình bạn
Một buổi chiều mùa hè, tôi ngồi trên bãi cát, hướng mắt ra đường chân trời xa tắp - nơi màu xanh của biển và bầu trời hòa lẫn làm một.
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Giữa mảng xanh rộng lớn của khuôn viên nhà thờ Thánh Tâm, giáo hạt Hố Nai, GP Xuân Lộc, có nhiều bức tượng lớn với gam màu sáng.
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nhà thờ Suối Tre (giáo phận Xuân Lộc) do kiến trúc sư người Pháp vẽ mẫu vào khoảng năm 1958. Công trình được thi công trong giai đoạn 1961-1963, sử dụng nhiều vật liệu nhập từ Pháp như khung sắt và chuông.
Thử nhìn bằng góc nhìn của người khác
Thử nhìn bằng góc nhìn của người khác
Hồi còn nhỏ, nhà tôi có một cái bàn gỗ đặt gần cửa sổ, trên bàn có đủ thứ đồ, khi thì tập sách của anh em tôi, lúc lại là mấy cái điều khiển tivi mà chúng tôi cầm nhầm từ phòng khách làm người lớn cứ đi phải...
Nhà thờ bên đập nước
Nhà thờ bên đập nước
Đập Tam Giang là một công trình thủy lợi, và là thắng cảnh đẹp thu hút nhiều du khách đến thăm vùng quê thuộc địa phận huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên (cũ). Đập này được xây dựng chắn ngang con sông Cái - là nơi 3 dòng sông được...
Đến và trở về với Chúa
Đến và trở về với Chúa
Tôi từng nghĩ mình hiểu thế nào là đứng trước nỗi đau của một người khác, cho đến ngày mẹ của một người bạn tôi qua đời. Nhớ lại những ngày đầu năm 2026, đó là lúc chúng tôi đang trong kỳ thi cuối năm ba đại học.
Thánh tích Mẹ Têrêsa Calcutta tại giáo xứ Thanh Đa
Thánh tích Mẹ Têrêsa Calcutta tại giáo xứ Thanh Đa
Giáo xứ Thanh Đa (TGP TPHCM) từng đón tiếp Mẹ Têrêsa Calcutta hai lần vào các năm 1993 và 1994. Hiện nay, nhà thờ lưu giữ nhiều thánh tích của Mẹ, như tóc, máu và mảnh áo.
Thanh Hóa chuyện xưa  dấu cũ
Thanh Hóa chuyện xưa dấu cũ
Có một đặc điểm chung của những ngôi nhà thờ cổ được xây dựng ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, là dù có mặt tiền theo kiểu truyền thống hay một phong cách nào đó của châu Âu, thì kết cấu bên trong...
Y Vân và ca khúc bất hủ về mẹ
Y Vân và ca khúc bất hủ về mẹ
Trong kho tàng âm nhạc (tân nhạc) Việt Nam, có thể nói ca khúc Lòng Mẹ của Y Vân là một tác phẩm bất hủ. Nhiều người ví von đó là một bản “quốc ca” về tình mẫu tử - không chỉ bởi giai điệu mượt mà, lời ca giàu...