(tiếp theo CGvDT 2555)
1.2. BẢN DỊCH
Ngày 17 tháng 8 năm Đồng Khánh thứ 3 (1889)
Hộ Bộ dâng tấu.
Nay [chúng thần] tiếp nhận công văn của các quan tỉnh Quảng Ngãi là bọn Lương Thành đưa Tư(1) lên, tường trình về việc [ngày trước] viện Cơ Mật đã có [công văn] phúc đáp lại tư của tỉnh đó trình lên [viện Cơ Mật], trong bản tư trình [của tỉnh Quảng Ngãi] đã bẩm bạch việc viên linh mục Đặng Đức Tuấn bẩm xin đối chiếu việc tiền, thóc của các giáo dân. Nguyên giáo dân đã nộp lưu tại sổ sách của tỉnh số tiền 4720 quan và 270 hộc thóc. Khấu trừ đi số tô thuế [phải nộp] theo lệ định, còn bao nhiêu xin phát hoàn.
Tỉnh đó đã tra xét việc số tiền và thóc này giáo dân nộp các lần, đã trích cấp cho quân nhu, hiện còn bao nhiêu. Giáo dân đã nộp tiền và thóc, ưng cho khấu trừ thuế theo lệ định của năm nay là: Thóc là 504 hộc; Tiền 225 quan. Còn dư bao nhiêu hãy tạm tích chứa tại kho, đợi một thời gian ngắn sẽ để cho hoàn lại. Việc đã được Viện Cơ Mật thẩm chiếu, ruộng đất súc vật của giáo dân ngày trước đánh giá bao nhiêu đem phát mại và cho tạm canh tác, đợi nghĩ xét.
Nay dân nơi đó đã hồi phục, linh mục ở xứ đó bẩm xin, [chúng thần] cùng xét nghĩ; do tỉnh đấy chiểu sổ sách tính toán các thuế điền thổ theo lệ định của giáo dân để khấu trừ, nhưng căn cứ vào tư trình lên thì thóc thu thiếu nhưng tiền thì quá số, đối chiếu lượng tô thóc giáo dân nạp bị thiếu, lệnh cho đem số tiền đó đối chiếu khấu trừ, còn thừa bao nhiêu tiền cho cấp trả. Quan tỉnh đó đã lệnh cho bên dưới tra xét giá trị súc vật phát mại và tiền mượn điền thổ; các lần đã nạp tại kho của tỉnh huyện là 4720 quan lẻ, thóc là 270 hộc lẻ, lại cứu xét trong năm nay giáo dân phải nộp thuế ruộng bằng thóc là 504 hộc lẻ; bổ nạp(2) 15 hộc lẻ; phụ nạp(3) 12 hộc lẻ. Tổng cộng tương ứng trưng thu là 532(4) hộc, trừ số thóc hiện đã nộp 270 hộc, còn thiếu thuế thóc là 261 hộc. Tuân theo y dụ của hoàng thượng, mỗi hộc thóc trị giá ước 08 quan tiền, quy thành tiền là 2092 quan, số thuế ruộng ra thành tiền là 225 quan tiền; cộng 2317 quan; tính cùng thuế nhân đinh(5) của năm nay là bao nhiêu (bởi vì các nơi đó giáo dân dần đã được hồi phục, được bao nhiêu suất chưa nắm được đích xác, ấn định sẽ lệnh cho các linh mục kê bẩm lên) đem khấu trừ; còn bao nhiêu dư cho lĩnh về phát cấp.
Lại tiếp, căn cứ vào các đơn của các linh mục bẩm xin khấu trừ tiền tô thuế cùng thuế thóc chiết nạp quy thành tiền cộng là 2317 quan tiền, số tiền dư 2402 quan xin lĩnh cấp cho giáo dân chi tiêu. Còn thuế tiền nhân đinh hiện ai còn sống thỉnh xin chiếu sổ mà nạp thuế tại các xã thôn, Lý trưởng nhận lĩnh chuyển nạp cho quan tỉnh, đã nghe các linh mục xứ đó nhận lĩnh tiền dư 2402 quan, việc đã xong. Còn riêng việc tiền thuế nhân đinh do các xã thôn thu nạp, lệnh cho đợi đối chiếu một thời gian. Nhân đó bọn thần phụng đối chiếu, theo tình tùy nghi xét trình bày. Thỉnh xin cứ theo vậy, giám xin trần tình đợi thánh chỉ sao lục để tuân theo thực hiện.
Lại việc nữa, viên Đào Tiến đã vâng phụng dự duyệt, nhưng hiện nay đang tuân mệnh đến Nha hải phòng tỉnh Quảng Nam để công cán. Cho nên không có tên chức, kính phụng và biện bẩm
- Thần là Lê Tri phụng thảo tẩu, khảo duyệt
- Thần Lê Trinh; Thần Nguyễn Văn Học phụng duyệt.
- Nội các thần là Lê Địch Cát ký
- Phụng đối chiếu văn bản trực tiếp: thần Nguyễn Xuân Huyền ký.
- Khoa đạo thần là Lê Hy ký.
Ghi chú của nhóm dịch thuật:
1. Tư: Tên gọi loại giấy tờ trao đổi giữa các cơ quan công quyền thời phong kiến, giống như công văn ngày nay.
2. Bổ nạp: Ngoài số thuế ấn định phải nạp thì hàng năm có các nguồn chi bất chợt không nằm trong ngạch chính thuế phải thu thêm, gọi là bổ nạp.
3. Phụ nạp: Tương tự như loại thuế bổ nạp, còn loại phụ cũng không nằm trong chính ngạch thuế.
4. 532 hộc, có lẽ văn bản cộng nhầm, cộng đúng là 531 hộc.
5. Thuế nhân đinh: Tức thuế thân.

Như vậy, nội dung văn bản cho thấy lý do linh mục Đặng Đức Tuấn bẩm xin khấu trừ tiền tô thuế cho giáo dân Quảng Ngãi không phải vì giáo dân Quảng Ngãi có được đặc quyền gì, tất cả chỉ là công dân đều phải có bổn phận đối với quốc gia. Tuy nhiên, vì khi thực hiện Chiếu Phân Sáp một cách gắt gao (1861), người giáo dân (dân đạo) “phải bị chia ghép đến ở vào xã thôn không có đạo; thu thuế đinh dân đạo nặng gấp hai, để chi quân nhu…”1. Sau khi ký Hòa Ước Nhâm Tuất, … “nhân ngày mừng thánh thọ, vua Tự Đức ban ân xá cho dân đạo được tự do…, cả người già trẻ em, đàn bà con gái không kể là đã hay chưa bỏ đạo và những trai tráng đã bỏ đạo, hết thảy đều tha về, ruộng vườn gia sản cấp trả lại và miễn cho ra lính, tạp dịch một năm”2. Do đó, linh mục Đặng Đức Tuấn mới có tờ trình bẩm xin về việc liên quan đến tô thuế mà giáo dân đã phải chịu theo lệnh triều đình trước Hòa Ước Nhâm Tuất. Tờ trình này của Linh mục Đặng Đức Tuấn phải được trình sau Hòa Ước và trước năm 1865.3
(còn nữa)
-------------
1 QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN, Đại Nam Thực Lục chính biên, Viện Sử Học phiên dịch, nxb. Giáo Dục, tập 7, trang 705.
2 QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN, Đại Nam Thực Lục chính biên, Sđd, tập 7, trang 777.
3 Sau Hòa Ước Nhâm Tuất (1862), cha Gioakim Đặng Đức Tuấn về lại Quảng Ngãi, làm việc mục vụ tại Quảng Ngãi cho đến năm 1865. Năm 1865, Đức cha Eugène Charbonnier bổ nhiệm cha Tuấn làm cha sở Nước Nhỉ. Cha Tuấn làm việc ở Nước Nhỉ cho đến khi qua đời (1874). Trong khi cha làm cha sở Nước Nhỉ, Triều đình Tự Đức còn mời cha về kinh thành Huế hai lần để tham hỏi ý kiến về quốc sự.
Bình luận