Lần gần nhất tôi đi biển cách đây vài năm. Vào một ngày mà sắc mai hay cành đào còn chưa kịp tàn, tôi bất ngờ được một người bạn đến vỗ vai: “Mày đi ngắm biển không?”. Tôi bật cười hỏi lại tại sao lại chỉ ngắm chứ không phải là tắm biển. Người bạn trả lời rằng hắn biết tôi không phải là người thích trầm mình trong nước giữa những cơn sóng, vả lại với cái thời tiết còn se lạnh thế này mà xuống nước thì coi chừng mang bệnh về nhà. Nghe cũng có lý, vậy là sáng hôm sau, tôi theo bạn đi.

Biển lúc đó chẳng đông đúc như tôi tưởng. Đi trên con đường dọc biển, lại có những cơn gió từ ngoài khơi thổi vào mang theo vị mặn riêng. Tôi không để ý đã đi qua bao xa, chỉ duy lúc xe rẽ qua một khúc cua là tôi nhớ rõ nhất, vì ngay phía xa trước mắt chúng tôi bỗng hiện ra một ngọn hải đăng. Nó nằm trên một mũi đất vươn ra biển, từ nơi chúng tôi đứng thì nó nhỏ lắm, nhưng cũng đủ thấy một ngọn tháp cao hướng lên trời. Chúng tôi dừng lại ngắm nghía, hồi lâu rồi mới quay trở về.
Thời gian trôi thật nhanh, thoáng cái chuyện hôm đó đã thành chuyện mấy năm trước. Và cũng chính người bạn rủ đi ngắm biển ấy, một tháng trước, đã gởi cho tôi một cuốn sách. Vừa đọc cái tên “Người gác hải đăng”, tôi lại bật cười, đôi khi có những sự trùng hợp thật khó giải thích! Tôi liền nhớ ngay đến ngọn hải đăng năm nào trên biển cùng cái dáng bé nhỏ giữa vùng trời nước mênh mông. Chỉ khác là lần này, thay vì đứng trông từ xa, tôi được bước đến gần hơn, qua từng trang sách của tác giả người Hàn Quốc Cho Chang-In. Ban đầu, tôi cứ nghĩ đây hoàn toàn là một câu chuyện về biển, về công việc của những người ngày đêm chong đèn báo hiệu cho tàu thuyền ngoài khơi, nhưng không, sách nói về tình mẫu tử.
Nội dung bắt đầu với chàng trai Yoo Jaewoo, một người gác hải đăng trên hòn đảo Gumyeong cùng chuỗi những ngày lặp đi lặp lại trong tĩnh lặng, tách biệt với thế giới bên ngoài. Tưởng như mình sẽ ở lại mãi nơi đây, nhưng một hôm, anh nhận được tin mẹ mình mắc bệnh Alzheimer gây thoái hóa thần kinh và làm sa sút trí tuệ. Người anh trai tìm đến nơi ở của Jaewoo với ý định đẩy phần trách nhiệm chăm sóc mẹ cho người em vốn đã tám năm sống biệt lập ngoài đảo. Lúc ấy trong lòng anh vẫn còn nguyên những khoảng cách, những tổn thương chưa được hóa giải với mẹ, bởi suốt hai mươi bốn năm sống chung, anh chưa bao giờ cảm thấy được mẹ yêu thương, và quyết định rời nhà để quên đi nỗi đau. Vậy mà khi về sống cùng, chính những ngày tháng chăm sóc mẹ theo bổn phận lại giúp anh nhận ra mẹ luôn yêu anh theo cách riêng. Dẫu đã sa sút trí tuệ và quên cả tên con, bản năng làm mẹ trong bà chưa bao giờ biến mất.
Đọc đến những trang sách về cuộc sống hai mẹ con, tôi chợt nhớ đến mẹ mình, càng thương mẹ thêm nữa. Mẹ tôi không mắc Alzheimer, cũng chưa bao giờ quên tên con cái. Hồi nhỏ, tôi từng nghĩ mẹ nghiêm khắc, như những lúc bị la rầy, có những khi thấy mẹ quan tâm người khác mà quên mất mình, mẹ cũng chưa một lần khen tôi lấy một câu. Tôi hờn dỗi - trẻ con mà! Lớn thêm một chút, khi đi làm xa, tôi mới nhận ra tình yêu thương của mẹ cha qua những cuộc điện thoại ngắn ngủi hỏi thăm sức khỏe, những bữa cơm hiếm khi được ngồi chung, hay những lần mẹ gói ghém miếng rau, quả trứng khi tôi quay lại thành phố. Mẹ tôi, chắc cũng giống như nhiều bà mẹ khác là chẳng hay nói, nhưng yêu thương bằng sự âm thầm, như ngọn hải đăng chẳng bước cùng thuyền trên nẻo đường, nhưng vẫn lặng lẽ soi sáng một góc biển để tàu thuyền biết đường mà trở về.
Tôi nhớ một câu viết trong sách: “Con trai gác hải đăng thì mẹ nó cũng vậy… Thì ra ngay từ đầu, mẹ đã luôn là người gác hải đăng của Jaewoo”.
Khang Hoàng,
phường Linh Đông, TPHCM
Bình luận