Thứ Tư, 14 Tháng Hai, 2018 13:55

NỊCH ÁI VONG ÂN - Bài ca vè dành cho gia đình trẻ Công giáo của linh mục Trần Lục

Giáo dục người Công giáo sống đời sống Tin Mừng theo Kinh Thánh và giáo lý là một trong những việc hết sức quan trọng, được các Thừa sai và những linh mục người Việt Nam quan tâm ngay từ buổi đầu truyền giáo, phát triển đạo ở nước ta. Một trong những hình thức giáo dục được họ chọn để hướng dẫn giáo dân là hình thức ca vè vãn. Hiểu một cách toát yếu, trên nền tảng của Tin Mừng, của giáo lý, họ ca vè hóa để tín hữu dễ nhớ, dễ hiểu, phù hợp với hầu hết năng lực nhận thức của giáo dân đương thời. Một trong những chủ chăn người Việt chọn hình thức truyền giảng Tin Mừng dưới hình thức ca, vè, vãn phải kể đến là linh mục Trần Lục.

Linh mục Trần Lục quen được gọi là Cụ Sáu (1825-1899), nguyên quán tại làng Mỹ Quan, tổng Cao Vĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Trong thời gian làm chính xứ Phát Diệm (Kim Sơn, Ninh Bình) từ 1865 đến 1899, cụ đã tổ chức xây dựng khu quần thể Nhà thờ lớn Phát Diệm nổi tiếng với phong cách kiến trúc phương Ðông, độc nhất vô nhị của kiến trúc nhà thờ Công giáo Việt Nam. Chẳng những thế, cụ còn là tác giả của những bài ca, vè, vãn hiện vẫn còn lưu truyền. Tương truyền những sáng tác của linh mục Trần Lục bao gồm hai nội dung chủ yếu: về tôn giáo và về lối sống đạo đức. Tất cả được tập trung in trong cuốn sách với tựa đề Sách thuật lại ít nhiều ca vè Cụ Sáu đã làm, in tại Ninh Bình năm 1920.

Các bài ca vè tôn giáo gồm: 18 bài ca vè về Ðức Maria, 1 bài về thánh Anna, 1 bài về thánh Gioa Kim, Ca vè về Chúa Giêsu, Ca vè về Ðức Chúa Thánh thần (Ðức Chúa Philiritô hiện xuống), Ca vè về Ðức Chúa Lời Ba Ngôi, Ca vè về lễ Santi (Lễ Mình Thánh Chúa Kitô), Ca vè về hạnh tích một số thánh. Các bài ca vè mang nội dung lối sống đạo gồm: Hiếu tự ca (1088 câu), Nữ tắc thường lễ (1016 câu), Nịch ái vong ân (440 câu). Phần lớn các bài ca vè về tôn giáo cùng với thời gian đã bị thất lạc, hiện chỉ còn ba bài mang nội dung lối sống đạo. Ba bài này được in trong cuốn Ca vè cụ Sáu và được tái bản nhiều lần. Trong 3 bài này, bài NỊCH ÁI VONG ÂN, tác giả dành cho việc giáo dục gia đình trẻ Công giáo.

Theo Từ điển Hán Việt của Ðào Duy Anh (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1994) thì Nịch: có nghĩa là chìm xuống nước - say mê quá; Nịch Ái: Vì thương yêu quá mà mê hoặc; Vong ân là quên ơn người. Như vậy, Nịch ái vong ân được hiểu một cách toát yếu: Do thương yêu say đắm mà quên ơn người.

Ði vào nội dung cụ thể cho thấy, qua bài ca vè Nịch ái vong ân, cụ Trần Lục răn dạy thanh niên biết sống cuộc sống gia đình trẻ từ quan niệm đạo vợ chồng trên nền tảng Kinh Thánh đến việc chọn vợ, các bước tiến tới thiết lập một gia đình khi có vợ rồi (đã lập gia đình); vợ chồng phải cư xử với nhau như thế nào để hòa thuận, tránh được sự phân ly…; Ðôi vợ chồng trẻ phải có trách nhiệm chăm lo, đối đãi với gia đình bố mẹ đẻ hai bên (tứ thân phụ mẫu), với họ hàng thân thuộc, với láng giềng ra sao cho vừa đúng với giá trị đạo đức truyền thống vừa đúng với tinh thần của Kinh Thánh và giáo lý Công giáo.

Trước hết, dựa trên nền tảng Kinh Thánh, cụ dạy cho đôi vợ chồng trẻ biết khi yêu nhau, gắn bó một đời với nhau họ trở nên một:

Phép vợ chồng một xương một thịt / Ðền công ơn sống chết cùng nhau (c. 27-28)

Và do vậy:

Hai người chẳng phải là hai / Ðã cùng một xác một người cùng nhau / Cho nên ta phải cúi đầu / Vâng lời chịu học trước sau một bề (c. 43-46).

Theo đạo đức truyền thống, vợ chồng lấy nhau là để “ăn đời ở kiếp” với nhau. Còn theo giáo lý Công giáo thì khi họ lấy nhau đã được Thiên Chúa kết hợp làm một và không thể phân ly, vì vậy việc chọn đối ngẫu là hết sức quan trọng. Trong vấn đề này, người con trai giữ vai trò chủ động. Tác giả của Nịch ái vong ân khuyên người con trai đến với người con gái phải bằng tình yêu thực sự, không phải vì đối ngẫu là con nhà giàu, nhà có thế lực để dựa dẫm, càng không phải chỉ vì say đắm sắc đẹp:

Cũng nhiều khi tại trai tham sắc / Hóa về sau còn mắc hợm to / Tự nhiên cũng lắm thứ hoa / Coi xinh đẹp đẽ nhưng mà không thơm (c.345-348).

Người con trai chọn vợ phải tìm hiểu gốc gác gia đình vợ, đặc biệt phải tìm hiểu kỹ càng người đối ngẫu sẽ làm vợ mình trong tương lai:

Nam nhi bây phải bảo nhau / Lấy vợ phòng trước sợ sau mới hòng / Sự biết lòng ân là khó biết / Nhưng phải xem tính nết cho tường / Chớ thị thường gặp đâu lấy đấy / Cũng nhiều trai hễ thấy thì vơ (c. 265-270).

Ðồng thời người con trai chọn vợ đừng quá tin vào người mai mối, bởi nhiều khi để “tác thành” cho đôi lứa mà họ nói sai sự thật, để rồi khi nên vợ chồng mới vỡ lẽ ra:

Ðến khi đã lấy nhau rồi / Về nhà chẳng thấy như lời nói xưa / Trăm chiều khốn nạn ngẩn ngơ.

Tác giả của Nịch ái vong ân khuyên người con trai đi tìm hiểu người vợ tương lai phải sống là chính mình, tránh sự giả hình :

Trai giả hình cho được lấy vợ / Thử trai này cũng ứa chan chan / Khi tâm ấy là lòng gian / Giả hình lấy vợ mà toan lừa người / Chê bai muôn tiếng để đời (c.367 - 371).

Kẻ giả hình (lừa dối) đã lấy vợ tất sẽ phải chịu hình phạt nặng nề:

Hãy lắng tai mà nghe hình phạt / Tội gian này to tát dường nào (c.375-376).

Một điều hết sức thú vị là tác giả Nịch ái vong ân đã đưa ra bảy “tiêu chí” để chàng trai chọn vợ tương lai:

Một là tính nó hiền lành / Hai là tính nó tính mình như in / Ba là nó có đức tin / Bốn là tính nó tự nhiên thương người / Năm là có tính tươi cười / Hòa với mọi người chúng bạn chị em / Sáu là có tính tự nhiên / Khiêm cung nhuần nhã dưới trên tôn nhường / Bảy là tính nó sẵn sàng / Nghe nhời dạy dỗ về đàng nết na (c.383-392).

Khi đã tìm được người vợ tương lai, người con trai phải “nằn lòng” vài ba tháng, sau khi quyết định mới “trình mẹ cha”. Nếu thấy trong lòng còn băn khoăn thì phải “trình với Thầy Cả” để được dạy bảo, sau trình lại mẹ cha.

Có thể nói, tác giả của ca vè Nịch ái vong ân đã chỉ cho thanh niên “tiến trình” tiền hôn nhân. Bởi đây là bước đầu, là nền tảng hết sức quan trọng để tiến tới hôn nhân, và đó cũng là nền tảng để giữ gìn hạnh phúc trọn đời của đời sống gia đình trong tương lai.

Sau khi hai người “nên một” sống đời sống gia đình, theo tác giả, trước hết người con trai phải biết ứng xử với người vợ trẻ (c.17-18). Người vợ trẻ khi đã lấy chồng phải đoan trang, chung thủy:

Vả chăng mình có chồng con / Chớ điều ngủng nghỉnh như còn trông ai (c.73-74).

Một thói thường trong đời sống gia đình trẻ là một số ông chồng vì quá tin lời vợ mà đối xử sai trái với bố mẹ đẻ, làm đảo lộn cuộc sống gia đình, mâu thuẫn cha mẹ con cái. Ðiều này được tác giả cảnh báo:

Cũng nhiều khi vì nghe nhời vợ / Mắng mẹ cha sấn sổ cực người (c.137-138).

Gia đình trẻ, vợ chồng phải sống theo đúng nghĩa vụ làm con với hai bên bố mẹ đẻ (tứ thân phụ mẫu):

Tứ thân cha mẹ bình an / Ði thăm về viếng hỉ hoan tươi cười (c.33-34).

Và:

Phải kính nhường họ hàng làm trước / Ngoài hương lân làng nước thứ hai.

Một gia đình yên ấm là một gia đình vợ chồng phải biết cư xử khoan hòa, đem lòng yêu thương đối đãi với nhau, phải biết nhường nhịn, tránh “Lửa to lại đổ thêm dầu” (c.203). Hoặc “vợ nói ít, mình nói nhiều” (c.171). Vợ chồng phải tương kính, tương hợp, tương phùng. Ðặc biệt, dứt khoát gia đình trẻ phải biết sống đời sống đức tin:

Lấy nhau cầu nguyện sớm trưa / Lắng nghe ý Chúa mọi giờ đinh ninh (c.333-334).

Ðồng thời:

Ngày hằng ngày cậy trông Ðức Mẹ / Thánh Quan Thầy hộ vệ cầu cho / Lại xin Ðức Thánh An-giô / Thiên thần bản mệnh người lo đỡ đần (c.431-434)

Như vậy, từ rất sớm, cụ Trần Lục đã nhận ra vai trò gia đình trẻ trong việc giữ đạo và sống đạo. Qua tác phẩm Nịch ái vong ân, linh mục khéo léo kết hợp những giá trị đạo đức truyền thống của người Việt với nền tảng tư tưởng thần học trong Kinh Thánh và trong giáo lý, để răn dạy thanh niên trước khi bước vào hôn nhân và sau hôn nhân sống đời sống gia đình. Những tư tưởng đó khi truyền tải được chú ý đến nội dung hơn là chau chuốt câu chữ.

Thời gian trôi đi, xã hội có nhiều biến động, nhưng những lời răn dạy của tác giả Nịch ái vong ân - linh mục Trần Lục đến nay vẫn giữ nguyên những giá trị thời sự.            

PGS. TS. Nguyễn Hồng Dương

Ý kiến bạn đọc ()
Tin khác
Xem thêm