“Hiền nhân mở cõi” gợi nhắc những người đi trước có tài năng, đức độ và đóng góp cho cộng đồng trong hành trình khai phá, xây dựng vùng đất mới. “Mở cõi” không chỉ là mở rộng địa bàn cư trú, mà còn là quá trình con người thích nghi với thiên nhiên, dựng làng, lập phố và tạo dựng không gian sống cho các thế hệ sau.
Từ ý nghĩa ấy, sáng 24.10, tọa đàm “Hiền Nhân Mở Cõi” diễn ra tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II (số 2 Ter Lê Duẩn, phường Sài Gòn, TPHCM), trong khuôn khổ chuỗi hoạt động “Nếp nhà xưa: Mạch sống người Việt” do Trung tâm Lưu trữ quốc gia II phối hợp với Nếp Xưa tổ chức. Qua những góc nhìn về kiến trúc, lịch sử và nhiếp ảnh, các diễn giả cùng gợi mở câu chuyện về hành trình khai phá đất đai, hình thành cộng đồng và lưu dấu văn hóa của tiền nhân.
Tìm hiểu cách người xưa dựng làng
Với kiến trúc sư, ThS. Nguyễn Trần Trọng Nghĩa, nghiên cứu kiến trúc đình làng là cách tìm hiểu mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, tập quán và đời sống cộng đồng. Tại tọa đàm, anh giới thiệu sự đa dạng trong kiến trúc đình ở các vùng miền, từ cách tổ chức mặt bằng, bố trí không gian thờ tự đến những công trình phụ trợ. Những khác biệt ấy phản ánh điều kiện địa hình, lịch sử cư trú và sinh hoạt của từng cộng đồng.
Đặc biệt, khi đề cập Nam Bộ, diễn giả lưu ý mối liên hệ giữa đình làng với địa hình sông nước. Sông ngòi, kênh rạch vừa tạo nên cảnh quan, vừa là tuyến giao thông kết nối các khu dân cư, góp phần định hình cách người dân tổ chức không gian sống. Đình làng cũng gắn với cả phần lễ, gồm các nghi thức tín ngưỡng, lẫn phần hội với những sinh hoạt chung. Vì thế, kiến trúc đình không chỉ cho thấy kỹ thuật xây dựng mà còn lưu giữ tập quán, sự gắn kết và những giá trị chung của cộng đồng.
Nếu ThS. Nguyễn Trần Trọng Nghĩa tập trung vào kiến trúc đình làng, kiến trúc sư Tôn Thất Liêm mở rộng góc nhìn đến việc lựa chọn địa điểm, tổ chức không gian đô thị và dấu ấn quy hoạch trong hành trình mở cõi. Qua câu chuyện về kinh thành Huế, ông gợi nhắc rằng việc hình thành một đô thị hay kinh đô luôn gắn với các yếu tố chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa và lịch sử. Cấu trúc thành lũy, hệ thống hào và cách tổ chức không gian cho thấy sự tính toán của người xưa trong xây dựng, bảo vệ nơi cư trú.
“Tiền nhân của chúng ta sở hữu những bộ óc thực sự phi thường. Các giải pháp về kiến trúc, phong thủy và quy hoạch sông nước từ hàng trăm năm trước đã chuẩn xác đến mức kinh ngạc, để lại những di sản vô giá tiếp tục phát huy giá trị kinh tế, văn hóa và xã hội đến tận hôm nay”, KTS Tôn Thất Liêm chia sẻ.
Từ Huế, câu chuyện nối dài đến phương Nam qua Trấn Gia Định, kênh Vĩnh Tế và hệ thống giao thông đường thủy. Những công trình này cho thấy vai trò của sông ngòi, kênh rạch trong đi lại, giao thương, phát triển sinh kế và kết nối các vùng đất. Qua đó, dấu ấn tiền nhân không chỉ nằm ở từng công trình, mà còn trong kinh nghiệm thích nghi với địa hình, tổ chức đời sống và tạo dựng những không gian bền vững qua nhiều thế hệ.
Lưu giữ căn tính phương Nam qua tư liệu và ống kính
Từ kiến trúc, tọa đàm mở rộng câu chuyện sang lịch sử cư dân. Nhà báo, tác giả Trần Hữu Phúc Tiến đưa người nghe trở về Nam Bộ buổi đầu khai phá qua những tư liệu, bản đồ và hình ảnh lịch sử. Đó là vùng đất có hệ thống sông ngòi rộng lớn, rừng rậm và nhiều vùng ngập nước, nơi thiên nhiên vừa đem lại nguồn sống vừa đặt ra không ít thách thức.
Thú dữ, đất phèn, ngập nước theo mùa và dịch bệnh từng là những trở ngại đối với người đến lập nghiệp. Muốn khai khẩn đất đai, phát triển sản xuất và ổn định cuộc sống, con người phải thích nghi với môi trường, vận dụng sức lao động và tích lũy kinh nghiệm qua nhiều thế hệ. Nhà báo Trần Hữu Phúc Tiến nhìn hành trình mở cõi như quá trình tạo dựng một “không gian sinh tồn”, nơi con người khai khẩn đất đai, tổ chức sản xuất, hình thành làng xóm và phát triển đời sống kinh tế, xã hội.
Ông nhấn mạnh: “Lịch sử hình thành Nam Bộ là câu chuyện của nhiều cộng đồng cư dân cùng sinh sống, lao động, thích nghi và góp phần tạo nên bản sắc của vùng đất.” Người Việt từ nhiều vùng miền, cùng các cộng đồng bản địa, người Hoa và những nhóm cư dân khác, đã góp phần tạo nên diện mạo phương Nam. Qua tiếp xúc, giao lưu và thích nghi, các yếu tố văn hóa được tiếp nhận, điều chỉnh, kết hợp, hình thành bản sắc riêng. Những dấu tích ấy vẫn hiện diện trong đình làng, địa danh, dòng sông, bản đồ và hình ảnh lưu trữ, giúp thế hệ hôm nay nhận diện nhiều lớp lịch sử của vùng đất.
Với nhiếp ảnh gia Minh Hòa, di sản còn được kể bằng những khung hình ghi lại trong các chuyến đi. Anh chia sẻ: “Ngày xưa tôi học lịch sử thấy khô khan và khó nhớ. Nhưng khi cầm chiếc máy ảnh chụp về lịch sử, về di sản, tôi muốn kể lại những câu chuyện ấy bằng hình ảnh để mọi thứ trở nên sống động hơn.”
Từ cửa biển, dòng sông Sài Gòn đến cảnh quan Huế và phố cổ Hội An, những bức ảnh của anh lưu giữ các chi tiết về kiến trúc, đời sống và sự đổi thay của cảnh quan theo thời gian. Bởi có những diện mạo chỉ tồn tại trong một thời điểm nhất định, việc ghi lại từng khoảnh khắc cũng là cách lưu giữ ký ức về một vùng đất.
Song song với tọa đàm, triển lãm cùng tên diễn ra từ ngày 24.10 đến 3.11, mở cửa tự do từ 8g đến 17g, giới thiệu các tài liệu lưu trữ về quá trình lập làng, bản đồ địa hình, hình ảnh nhà cửa, đình làng, sắc phong và văn bia. Các hoạt động tương tác như bản đồ ký ức, bảng ghim quê hương, viết chuyện nhà, chuyện làng cũng mời khách tham quan góp thêm những câu chuyện của riêng mình.
Phương Nhã
Bình luận