Ðiều luật căn bản về tình yêu

Ai cũng muốn mình sống lâu dài, ai cũng muốn dân tộc mình được trường tồn. Trong dòng lịch sử nhân loại, dân Do Thái đã khám phá ra một bí quyết để đạt được điều đó, là “phải yêu mến Đức Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức và phải yêu người thân cận như chính mình”, vì “Thiên Chúa là Đức Chúa duy nhất tồn tại muôn đời” (x. Đnl 6,2-6). Đức Giêsu cũng đã xác nhận điều luật căn bản này: “Nếu anh muốn vào cõi sống thì hãy giữ các điều răn” (x. Mt 19,16-17).

Nhưng giữ các điều răn thế nào để đạt sự sống vĩnh hằng?

tinhyeu.jpg (113 KB)

 Những hiểu lầm của con người về sự sống vĩnh hằng

Vào đầu thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên, dân tộc Do Thái, nhờ được Thiên Chúa mạc khải và dưới sự dẫn dắt của ông Môisê, đã nhận ra các thần linh do tinh thần con người tưởng tượng ra đều không có thật. Các tượng thần bằng gỗ, đá, bạc, vàng chỉ là sản phẩm từ tay con người, không đáng kính sợ, không đáng yêu thương, vì chúng không có sự sống, “chúng có mắt, có miệng mà không nhìn không nói. Có mũi, có tai mà không ngửi không nghe” (x. Tv 113, 5-6).

Ngược lại, các giá trị tinh thần như tình yêu, hạnh phúc, sự sống, chân thiện mỹ... tồn tại, chứng tỏ phải có một Đấng Tối Cao, tinh thần tuyệt đối, cai quản muôn loài và là nguồn gốc mọi sự. Chỉ Đấng ấy là thần linh duy nhất, và khi con người kính sợ, yêu mến Ngài hết lòng, họ sẽ nhận được sự sống vĩnh hằng. Qua cuộc giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập, những năm lưu lạc trong hoang địa, và lịch sử thăng trầm của nước Do Thái, dân tộc này nhận ra các điều luật cơ bản rất cần thiết để đạt được sự sống lâu dài.

Tuy nhiên, mọi người đều đã chết, và dân tộc Do Thái không còn tồn tại từ năm 70, khi La Mã phá hủy thành Giêrusalem, cho đến ngày 14.5.1948, khi David Ben Gurion tái lập nước Do Thái. Điều này cho thấy các điều luật ấy còn thiếu sót, cần được hoàn thiện về nội dung và cách tuân giữ để bảo đảm sự sống vĩnh hằng.

Chính vì vậy, trong lịch sử nhân loại, chỉ mình Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đã đến trần gian để dạy cho con người con đường dẫn đến sự thật tuyệt đối và sự sống vĩnh hằng. “Chính Người còn dâng mình làm của lễ đền tội cho dân chúng và trở thành vị thượng tế hằng sống để chuyển cầu cho ta được sống muôn đời như Thiên Chúa” (x. Dt 7,23-28).

 

Đức Giêsu dạy điều luật căn bản về tình yêu

Người Do Thái và nhiều người khác đều biết điều luật tình yêu này, nhưng lại hiểu chưa đúng về tình yêu và mỗi người yêu cách khác nhau, nên không cảm nhận được sự sống vĩnh hằng trong đời mình. Vì thế, Đức Giêsu đã dạy rất kỹ về tình yêu này.

Trước hết, Người nói về một tình yêu toàn diện phải dành cho Thiên Chúa: “Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi”. Trong thực tế đời sống, chúng ta thường dành phần hồn để yêu Chúa, dành lòng để yêu người, dành trí để học hành, dành sức để làm việc, vui chơi. Chúa chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong đời sống, trong khi đáng lý Ngài phải là tất cả cho ta và ta phải dành tất cả cho Ngài.

Việc dành toàn thân cho Thiên Chúa chỉ là luật công bằng vì Ngài đã ban tất cả cho con người. Rất nhiều người, nhất là các bạn trẻ, chưa hiểu được điều đó. Mỗi ngày ta thở hơn 10.000 lít không khí để chuyển hóa máu đen thành máu đỏ cho sự sống thể xác, nhưng có mấy người trả cho Chúa một xu nhỏ hay một lời cảm ơn? Mỗi ngày ta yêu, ta nghĩ, nhưng thử hỏi ai đã ban tình yêu, và tri thức cho mình? Nhiều người nghĩ rằng tình yêu tự nhiên mà có, tư tưởng do học hành mà kiếm được vì chúng nằm sẵn trong trái tim hay bộ não của mình. Nhưng nếu mổ trái tim, ta chỉ thấy những thớ thịt, giải phẫu bộ não chỉ thấy những xung động điện của các tế bào thần kinh. Chẳng có nơi nào trong thân xác chứa đựng tình yêu hay tư tưởng cả.

Nếu phân tích kỹ hơn câu trích dẫn của Chúa Giêsu và so sánh với câu của Môisê, ta thấy Người đã thêm một chi tiết quan trọng: “hết trí khôn”. Đây là điểm khác biệt mà ít người quan tâm. Chỉ khi yêu với hết trí khôn, mỗi người mới muốn tìm hiểu sự thật về Thiên Chúa, con người và vạn vật. Nhiều người chỉ yêu theo bản năng, cảm xúc, cảm tình, chứ không bằng trí khôn của mình.

Điểm bổ túc thứ hai là Chúa Giêsu đã đặt điều luật yêu thương “người thân cận như chính mình” ngang tầm quan trọng với điều luật yêu mến Thiên Chúa. Rất nhiều người đều cho điều luật đối với Thiên Chúa là quan trọng hơn và có quyền ưu tiên. Người ta sẵn sàng hy sinh con người để bảo vệ quyền lợi của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đang đảo ngược vị trí và trật tự trong tình yêu, khi Người dạy ông Nicôđêmô: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Người cũng nhắc bảo chàng thanh niên về các giới răn đối với con người trước các giới răn đối với Thiên Chúa (x. Mc 10,19). Thánh Gioan đã hiểu đúng ý của Chúa Giêsu khi dạy: “Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình. Vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (x. 1Ga 4, 20-21).

Điểm bổ túc cuối cùng và thật sự giúp tìm được sự sống đời đời, hoàn thành các điều luật căn bản: “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (x. Ga 15,12). Đức Giêsu là Ngôi Lời Thiên Chúa làm người nên Người đã nối kết điều luật tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với con người trong một tình yêu duy nhất, và Người đã thể hiện tình yêu đó trong đời sống của mình để chúng ta bắt chước nhờ Thánh Thần tình yêu mà Người ban cho ta (Ga 20,22).

Chính Thánh Thần tình yêu này mới làm cho Người sống lại để đưa Người và chúng ta vào sự sống kỳ diệu, vĩnh hằng của Thiên Chúa. Chính tình yêu này mới giúp ta cảm nghiệm được Nước Thiên Chúa là nước của tình yêu. Đó chính là sự khác biệt giữa luật tình yêu của Chúa Giêsu với các điều luật yêu thương của dân Do Thái. Vì thế Người mới nói với vị luật sĩ: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu”. Không xa nhưng vẫn chưa lại gần, và càng chưa ở trong Nước Thiên Chúa!

Gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu và thể hiện tình yêu như Người, mỗi người sẽ cảm nhận được sự sống vĩnh hằng của Thiên Chúa ngay trong cuộc đời trần thế này.

Lm Antôn Nguyễn Ngọc Sơn

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Bữa tiệc Nước Trời
Bữa tiệc Nước Trời
Người Công giáo thường được nghe giảng về Nước Trời. Nhưng từ “Trời” dễ khiến họ hiểu đó là một nơi chốn trên trời, hay “nước thiên đàng” chỉ có sau khi chết.
Thở được Thần Khí nhờ Mẹ Maria
Thở được Thần Khí nhờ Mẹ Maria
Các bài Thánh Kinh của ngày lễ kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi nhắc nhiều đến Chúa Thánh Thần, như mời gọi chúng ta suy niệm về mối tương quan mật thiết của Mẹ Maria với Chúa Thánh Thần.
Thống nhất đời sống trong Chúa Giêsu
Thống nhất đời sống trong Chúa Giêsu
Các tín hữu luôn được mời gọi suy nghĩ về mối tương quan giữa hiểu biết và hành động, cũng như cách ứng xử sao cho xứng đáng là con người cao quý và là con Thiên Chúa vô cùng cao cả như Chúa Giêsu.
Bữa tiệc Nước Trời
Bữa tiệc Nước Trời
Người Công giáo thường được nghe giảng về Nước Trời. Nhưng từ “Trời” dễ khiến họ hiểu đó là một nơi chốn trên trời, hay “nước thiên đàng” chỉ có sau khi chết.
Thở được Thần Khí nhờ Mẹ Maria
Thở được Thần Khí nhờ Mẹ Maria
Các bài Thánh Kinh của ngày lễ kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi nhắc nhiều đến Chúa Thánh Thần, như mời gọi chúng ta suy niệm về mối tương quan mật thiết của Mẹ Maria với Chúa Thánh Thần.
Thống nhất đời sống trong Chúa Giêsu
Thống nhất đời sống trong Chúa Giêsu
Các tín hữu luôn được mời gọi suy nghĩ về mối tương quan giữa hiểu biết và hành động, cũng như cách ứng xử sao cho xứng đáng là con người cao quý và là con Thiên Chúa vô cùng cao cả như Chúa Giêsu.
Khiêm nhường tỉnh thức
Khiêm nhường tỉnh thức
Ðang có một phong trào khen và tự khen. Thí dụ: Giáo xứ này có nhiều phát triển bền vững. Giáo phận kia có một sức sống trưởng thành vững mạnh. Giáo hội Việt Nam chúng tôi có một quá khứ và hiện tại sốt sắng, hào hùng, hứa hẹn...
Công bằng và tặng không
Công bằng và tặng không
Trong quan hệ xã hội, mọi hoạt động con người đều bị chi phối bởi luật lệ dựa trên công lý hay công bằng. Công bằng có nghĩa là “theo đúng lẽ phải, không thiên vị”; còn công lý là “lẽ phù hợp với đạo lý và lợi ích chung...
Tha thứ cho nhau
Tha thứ cho nhau
Bên cạnh “món nợ tình yêu” cần trang trải cho Chúa và tha nhân, việc tha thứ những lỗi lầm, sai phạm của người khác cũng là điều cốt yếu để mỗi tín hữu “sống trọn vẹn cho Chúa” như thánh Phaolô nhắc nhở (x. Rm 14,7-9).
Món nợ tình yêu
Món nợ tình yêu
Con người không sống riêng lẻ. Trong cuộc sống, mỗi người đều có trách nhiệm với những người chung quanh, biết cảnh báo người tội lỗi để họ hối cải, biết sửa lỗi cho người lỗi lầm (x. Ed 33,7-9; Mt 18,15-20).
Hiểu trọn vẹn về Chúa Giêsu Kitô
Hiểu trọn vẹn về Chúa Giêsu Kitô
Dù được Chúa Cha mở lòng soi trí và Chúa Giêsu xác nhận lời tuyên xưng của ông: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, nhưng Phêrô cũng như nhiều tín hữu vẫn chưa hiểu trọn vẹn lời tuyên xưng này để có thể quảng đại đi theo...
Ơn cứu độ vĩnh hằng
Ơn cứu độ vĩnh hằng
Nói đến cứu độ là người ta thường nghĩ đến việc cứu mình hoặc người khác khỏi những tai họa hay thiệt hại nào đó như mất mát, bệnh tật, nghèo khổ, chết chóc…