Chúa Giêsu mời gọi: “Anh chị em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh chị em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,29). Mỗi người thường dành những năm đầu đời để học hành. Nhưng rất ít ai tự hỏi: học để làm gì? Học thế nào cho hiệu quả nhất? Học với ai cho xứng đáng nhất?
Nhiều bậc phụ huynh phó mặc con cháu mình cho thầy cô ở trường lớp, mà không hiểu rằng nền giáo dục đầu tiên và căn bản nhất chính là từ cha mẹ và người thân ở gia đình. Do đó, mỗi người phải biết học hỏi và tự đào tạo mình trước khi dạy dỗ người khác. Việc điểm lại đôi nét về nền giáo dục Việt Nam sẽ giúp mỗi người ý thức hơn hành trình tìm về học hỏi nơi vị Thầy tuyệt vời là chính Chúa Giêsu.

Tình trạng giáo dục hiện nay
Trải qua suốt chiều dài lịch sử phong kiến, người Việt học để ra làm quan, vì đó là cách tiến thân và khẳng định mình nhanh nhất trong một xã hội theo chế độ quân chủ chuyên chế. Nội dung học xoay quanh bộ sách Tứ Thư, Ngũ Kinh, cùng một số kỹ năng làm bài văn, thơ phú. Phương pháp học tập và cách thi cử cũng vì nội dung này mà có phần hạn chế, thiên về từ chương. Trần Tế Xương (1870-1907), một Nho sĩ đỗ tú tài thời đó, đã phải than: “Cái học Nhà Nho đã hỏng rồi. Mười người đi học, chín người thôi…”.
Càng về sau, dù nội dung học đã dần cập nhật những kiến thức thiết thực hơn, nhưng phương pháp giảng dạy và thi cử vẫn chưa thoát khỏi những lối mòn cũ. Nhận ra những rào cản tích tụ ấy, trong những năm gần đây, toàn xã hội đang chung tay thúc đẩy một cuộc cải cách sâu rộng. Đó là hành trình đổi mới tận gốc rễ để nhà trường không chỉ truyền thụ kiến thức đơn thuần, mà thực sự chuẩn bị cho thế hệ trẻ khả năng tự chủ, thích ứng và hội nhập với thế giới.
Lý do phải quyết liệt đổi mới là vì nền giáo dục trước đây vẫn nặng về truyền đạt kiến thức, đôi khi dẫn đến tình trạng nhồi nhét, trong khi chưa chú trọng đúng mức đến việc vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề mà công việc và cuộc sống đặt ra. Thật ra, khoa học và công nghệ phát triển rất nhanh, kho tàng tri thức mỗi ngày một lớn, nên một số hiểu biết ta thu nhận từ việc học cũng nhanh chóng trở nên lạc hậu, lỗi thời.
Những khám phá mới về con người, về vũ trụ vạn vật trong khoảng 20 năm gần đây đã mang lại những bước chuyển biến lớn trong nhận thức, khiến nhiều quốc gia phải điều chỉnh chính sách giáo dục và đào tạo. Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, và một số nước Hồi giáo đã thay đổi cách tiếp cận đối với “giả thuyết vạn vật tiến hóa ngẫu nhiên” của Darwin, vì lo ngại nó có thể làm cho con người hiểu lầm vị trí cao quý của mình trên trái đất và vũ trụ.
Hơn nữa, những khám phá mới về cấu trúc ADN, về hoạt động của bộ não, nhất là về cấu trúc của các nguyên tố trong thân thể con người giúp nhận ra giá trị cao quý của tinh thần, hướng lòng người về tình yêu quảng đại, tư tưởng trong sáng, hạnh phúc chân thật, và sự sống phi thường của chính Thiên Chúa. Nhiều người trên thế giới bắt đầu hiểu được điều đó.
Dẫu vậy, thực tế cho thấy dường như một số tín hữu Công giáo, kể cả những người có nhiệm vụ giáo dục và đào tạo người khác, vẫn chưa cập nhật kịp thời các khám phá này. Do đó, các bài giảng, bài giáo lý của họ nhiều khi giảm đi sức thuyết phục người nghe, nhất là giới trẻ trong thời đại hiện nay.Vì thế, Tòa Thánh Vatican luôn nhấn mạnh đến việc đào tạo lại trong các chủng viện và tu viện, như ta thấy trong chuyến Ad Limina ở Roma của Hội đồng Giám mục Việt Nam vào tháng 4 năm 2026 vừa qua.
Học để làm gì?
Nếu có dịp hỏi các học sinh, sinh viên, thậm chí cả phụ huynh rằng “học để làm gì”, nhiều người sẽ lúng túng không biết trả lời. Đa số đều nghĩ đến tuổi thì phải đến trường; học để sau này có công ăn việc làm, nuôi sống bản thân và giúp đỡ gia đình. Chỉ có một số rất ít mới nhận ra học là để mở mang tri thức hay để hoàn thiện chính mình.
Năm 1997, Tổ chức Giáo dục Khoa học Văn hóa (UNESCO) của Liên Hiệp Quốc đã công bố thông điệp mang tên: “Học tập - một kho báu tiềm ẩn”, đặt nền móng cho bốn trụ cột giáo dục của thế kỷ XXI: “Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định mình”.
+ Học để biết là nắm được các kiến thức cần thiết cho cuộc sống.
+ Học để làm là có khả năng hành động trong môi trường sống của mình.
+ Học để sống chung là hợp tác với người khác trong xã hội.
+ Học để khẳng định mình là phát triển được hết năng lực, phẩm chất cá nhân làm chủ cuộc đời, trở thành một con người cao quý, xứng đáng trong cộng đồng.
Bốn trụ cột này phải kết hợp hài hòa mới tạo nên “một con người có giáo dục, có văn hóa”. Thiếu hụt hoặc yếu kém bất kỳ yếu tố nào, nền giáo dục ấy sẽ không còn toàn vẹn.
Công đồng Vatican II, ngày 28.10.1965, đã ra tuyên ngôn “Gravissimum Educationis”, nhấn mạnh: “việc giáo dục hết sức hệ trọng”, để nhắc nhở rằng học không phải để biết, để làm, để sống, để khẳng định mình như một người bình thường, mà còn như người con cao quý của Thiên Chúa, vì người ta có thể hiểu biết vô cùng, hành động phi thường, sống mãi mãi và hạnh phúc vô biên.
Học với ai cho xứng đáng nhất?
Trong cuộc đời, mỗi người đều được học với nhiều thầy cô và cảm nghiệm rằng người nào càng yêu mến ta, càng dạy ta những điều tốt đẹp, thì ta càng quý trọng, biết ơn. Thầy cô nào càng ảnh hưởng và làm thay đổi đời của nhiều người, thì càng được tôn vinh. Hơn nữa, ta còn hiểu rằng mọi tư tưởng tốt đẹp, sự khôn ngoan, tình yêu, ân huệ và những giá trị văn hóa thuộc về tinh thần đều bắt nguồn từ Thiên Chúa, Đấng luôn tạo thành con người giống hình ảnh Ngài, và ban cho con người có tinh thần vượt ra khỏi những giới hạn của vật chất, không gian và thời gian.
Vì thế, khi thấu hiểu Thiên Chúa chính là Người Thầy tối cao (x. Mt 23,8-9), là nguồn mạch của mọi tri thức và ân huệ, con người mới sẵn lòng chia sẻ một cách quảng đại và vô vị lợi những gì mình khám phá được cho tha nhân, thay vì giấu nghề, giữ kín, đòi tác quyền, đòi thù lao thật cao như hiện nay.
Chính khi nhận ra Đức Giêsu là vị Thiên Chúa cụ thể, là Người Thầy tuyệt vời, ta mới cảm thấy tự hào được làm học trò của Người và học với Người. Chúa Giêsu không chỉ dạy ta những mảnh sự thật rời rạc, nhưng là sự thật toàn diện, hoàn hảo: về Thiên Chúa, về con người, về vạn vật, để ta sống dồi dào và siêu việt như Người.
Lm Antôn Nguyễn Ngọc Sơn
Bình luận