Tôi vẫn nghe ông bà mình nói có kinh Tin kính dài và kinh Tin kính ngắn. Thực ra là những kinh nào? Vì sao trong thánh lễ lại đọc kinh Tin kính và việc này có từ bao giờ?
Ngọc Dung, Cần Thơ
Trả lời của linh mục Giuse Phạm Đình Ái, dòng Thánh Thể:
Trong Sách lễ hiện nay, kinh Tin kính chỉ đọc trong các lễ Chúa nhật và thánh lễ trọng. Trong những thánh lễ đòi buộc đọc kinh Tin kính, các tín hữu thường đọc kinh Tin kính Nicea - Constantinopoli (thường gọi là kinh Tin kính dài). Nhưng Nghi thức Thánh lễ mới [2002] quy định có thể đọc kinh Tin kính Các Tông Đồ (thường gọi là kinh Tin kính ngắn) bất cứ chỗ nào cần đọc kinh Tin kính, nhất là trong mùa Chay và mùa Phục Sinh (số 19). Ngoài hai kinh Tin kính này, còn có kinh Tin kính Athanasia và kinh Tin kính Trentô. Cả hai kinh đều được đánh dấu bằng tính chính xác và nghiêm ngặt về thần học, nhưng hầu như không được sử dụng trong thánh lễ.

Kinh Tin kính Các Tông Đồ bắt đầu như sau: “Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất...”. Kinh Tin kính dài nêu một cách chi tiết: “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình. Tôi Tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Ðức Chúa Cha từ trước muôn đời...”.
Sau khi Đức Giêsu chịu chết và sống lại, Hội Thánh phải mất vài thế kỷ để xây dựng kinh Tin kính như được các tín hữu tuyên xưng hiện nay. Kinh Tin kính có lẽ được soạn thảo từ thế kỷ IV, nhưng ban đầu không phải để đọc trong thánh lễ. Năm 515, lần đầu tiên kinh Tin kính xuất hiện trong thánh lễ do Thượng phụ Timôtê ở Constantinopoli đưa vào. Lý do hàng mấy thế kỷ kinh Tin kính mới được đọc trong thánh lễ, theo Roguet là vì bản chất việc cử hành thánh lễ đã là tuyên xưng đức tin rồi, vì vậy, đưa vào thánh lễ có vẻ như dư thừa hoặc kinh này chỉ cần cho những người lung lay đức tin.
Văn kiện của Công đồng Chalcedonia (năm 451) coi kinh như là bản tuyên xưng đức tin của 150 nghị phụ nhóm họp tại Constantinopoli. Sau đó, kinh được coi như bản tóm lược đức tin vốn đã được hai Công đồng Nicea (325) và Constantinopoli (381) công bố. Đây là bản tuyên xưng đức tin Công giáo trọng thể, được phổ biến rộng rãi dưới những hình thức khác nhau nhờ sự chuẩn nhận của Công đồng Chalcedonia, tại nhiều giáo phận thuộc Đông phương.
Tại Đông phương, kinh Tin kính này đã được đọc trong mọi thánh lễ ngay từ thế kỷ VI. Các tín hữu phải bắt buộc sử dụng kinh Tin kính từ năm 568 do sắc lệnh của hoàng đế Byzantine là Justinianô II (563-578). Tuy nhiên, người ta đọc kinh này không phải liền sau bài Tin Mừng, mà sau Lời nguyện Tín hữu, trước khi xướng Kinh Tạ Ơn (Anaphora). Lời nguyện Tín hữu và kinh Tin kính trong những thế kỷ đầu không thuộc về Phụng vụ Lời Chúa, nhưng là phần chuyển tiếp để bước sang Phụng vụ Thánh Thể. Thông thường, tất cả cộng đoàn cùng đọc, và không bao giờ hát. Ngoài ra, để diễn tả niềm tin tập thể, hầu hết các Hội Thánh Đông phương dùng ngôi thứ nhất số nhiều: “Chúng tôi Tin kính...” (Credimus).
Từ Đông phương, tục lệ được truyền sang Tây phương qua ngả Tây Ban Nha. Tại đây, kinh Tin kính được Công đồng Toledo đưa vào đọc ngay trước kinh Lạy Cha trong mọi thánh lễ từ cuối thế kỷ VI (589), nhằm chống lại lạc giáo Ariô. Từ Tây Ban Nha, kinh Tin kính đã được truyền sang Ái Nhĩ Lan, rồi tới vùng Anglo-Saxon (Anh Quốc), kinh được đọc lúc kết thúc Phụng vụ Lời Chúa. Năm 1014, Đức Bênêđictô VIII chấp nhận phong tục của Pháp - Đức (từ phụng vụ Gallican) về việc đọc kinh Tin kính trong thánh lễ, do lời thỉnh cầu của vua thánh Henry II khi ngài đến nhận vương miện hoàng đế tại Rôma. Tại đây, nhà vua hết sức kinh ngạc bởi không thấy kinh Tin kính được đọc trong các thánh lễ (PL 142:1060-1061). Nhờ vậy, từ đó trở đi, kinh Tin kính được đọc trong thánh lễ ở khắp nơi, nhưng chỉ được đọc trong các lễ Chúa nhật và những cuộc cử hành mà mầu nhiệm của lễ được kinh này gợi lên trong bản văn. Dần dần đến kỷ XI-XII, kinh Tin kính đã được đọc cả trong các lễ mừng khác.
Bình luận