Mưa Sài Gòn có những ngày dai dẳng chứ chẳng phải chợt nắng, chợt mưa. Tuần rồi, mưa từ sáng đến quá trưa vẫn chưa dứt, những con đường loang nước, vài khoảng sân nhỏ cũng ngập lấp xấp. Một ngày cuối tuần như thế, chị hàng xóm tôi, người miền Tây lên Sài Gòn lập nghiệp đã nhiều năm, cảm thấy nhớ quê nhiều. Không biết vì tiếng mưa hay bởi cái lạnh len vào căn nhà, chị lục lại góc kho và bắt gặp chiếc nồi cù lao cũ. Chiếc nồi có lẽ đã lâu không dùng, nằm lẫn giữa những vật dụng bếp núc. Chị kể với tôi về chiếc nồi lẩu kỷ niệm này và lên tiếng hỏi chồng: “Hay hôm nay mình làm cù lao?”. Anh cũng là người miền Tây, nghe vậy liền hưởng ứng. Trong tủ lạnh nhà chị hôm ấy có hơn chục loại nguyên liệu phù hợp. Nhà tôi có một cái bếp than nhỏ để nướng thịt. Vậy là chẳng cần đi đâu xa, tôi góp than, góp củi, hai vợ chồng anh chị bắt tay chuẩn bị một nồi lẩu vị quê nhà.

Trong cách gọi của người miền Tây, cù lao là vùng đất nổi giữa sông, được phù sa bồi đắp qua năm tháng và bốn bề bao quanh bởi nước. Tên gọi ấy gợi đến một miền sông nước với những cù lao quen thuộc như Tân Lộc ở Cần Thơ, Cù Lao Dung ở Sóc Trăng, Cù Lao Giêng ở An Giang, hay An Bình ở Vĩnh Long. Cũng từ hình ảnh ấy, người miền Tây có một “cù lao” khác có thể cảm nhận bằng vị giác là lẩu cù lao, được gọi qua hình ảnh chiếc nồi đặc biệt dùng để nấu món ăn. Nồi có một ống ở giữa, bên dưới hoặc trong lòng ống đặt than hồng. Hơi nóng từ than làm nước lẩu sôi đều, giữ món ăn nóng suốt bữa. Ngày trước, đây là vật dụng khá quen thuộc trong những gia đình miền Tây mỗi khi nhà có đám tiệc, lễ, Tết hoặc dịp họ hàng sum họp. Vì quá quen với món này nên anh chị sẵn tay chỉ tôi cách nấu. Điều thú vị là cù lao không cần quá nhiều gia vị. Nước dùng thường được nấu từ xương ống, kết hợp tôm khô, mực nướng hoặc nước dừa tươi để tạo vị ngọt tự nhiên. Củ sắn, củ cải trắng, cà rốt, bắp cải, bông cải… được thêm vào để nước có vị thanh và trong. Một nồi cù lao đúng kiểu xưa có thể có từ 10 đến 20 loại nguyên liệu, thậm chí có nơi còn giữ truyền thống làm đủ 19 món. Thịt, tim, gan, mề, da heo khô, chả cá thát lát, thịt bằm cuộn bắp cải… được sơ chế chín trước rồi xếp thành từng lớp quanh nồi. Rau củ, thịt và các loại thức ăn được bày xen kẽ, vừa tạo sự đầy đặn vừa làm cho nồi lẩu trở nên bắt mắt.
Chiều ấy, căn bếp nhỏ trở nên rộn ràng. Công đoạn kỳ công nhất không phải là nấu mà là sắp xếp. Cà rốt được tỉa thành những hình đơn giản, bắp cải thái vừa ăn, hành lá và ngò rí để dành rắc lên trên. Khi nước đã ngọt, trong, mới được chan vào nồi đã xếp sẵn nguyên liệu. Dưới ống nhôm, than bắt đầu bén lửa làm nóng nước lẩu. Giữa thời đại bếp điện, nồi lẩu điện đã trở nên quen thuộc, việc nhóm than và chờ nước lẩu sôi dường như chậm hơn. Nhưng chính cái chậm ấy lại làm người ta có thêm thời gian trò chuyện. Làm khách thưởng thức món ngon, tôi còn được nghe hai vợ chồng nhắc chuyện quê. Họ nhớ những bữa tiệc có đông bà con, nhớ chiếc bàn dài đặt giữa sân, nhớ người lớn vừa ăn vừa trò chuyện. Nhớ nhất có lẽ là cảm giác mọi người cùng chờ nồi cù lao sôi lên để vào bữa ăn. Bên cạnh nồi lẩu là đĩa bún tươi, chén nước mắm ớt cay nồng. Khác với nhiều món lẩu hiện nay, lẩu cù lao gần như không có một đĩa rau riêng đặt bên cạnh. Mọi thứ đã được sắp sẵn trong nồi. Khi ăn chỉ việc chờ nguyên liệu nóng, chan nước dùng vào bún hoặc ăn cùng cơm, mì.
Buổi chiều mưa đó, tôi cảm nhận rằng có lẽ điều làm cù lao đáng nhớ không chỉ nằm ở vị ngọt thanh của nước lẩu, hay sự phong phú của nguyên liệu, mà còn là cách món ăn này kéo mọi người ngồi lại gần nhau.
Xuyên Hương
Bình luận