Tên gọi các phường mới nhưng lại vốn quá thân quen (kỳ 7)

TP Thủ Đức sau sáp nhập còn 12 phường, gồm Hiệp Bình, Tam Bình, Thủ Đức, Linh Xuân, Long Bình, Tăng Nhơn Phú, Phước Long, Long Phước, Long Trường, An Khánh, Bình Trưng, Cát Lái.

Các phường Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước và một phần phường Linh Đông sau sáp nhập thành phường Hiệp Bình. Đây là tên địa danh ở huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định cũ. Trước năm 1987, khu vực Hiệp Bình ngày nay thuộc xã Hiệp Bình, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định. Đến năm 1987, xã Hiệp Bình được chia thành hai xã là Hiệp Bình Chánh và Hiệp Bình Phước, sau là hai phường thuộc quận Thủ Đức vào năm 1997. Sau khi thành phố Thủ Đức được thành lập vào năm 2020, hai phường này vẫn trực thuộc. Hiệp Bình cũng được đặt tên cho đường và con đường này có từ thời Pháp thuộc, gọi là đường liên xã Bình Chánh - Bình Phước, đến ngày 7.4.2000 thì mang tên đường Hiệp Bình.

nhatholongbinh.JPG (351 KB)
Nhà thờ Long Bình

Ba phường Bình Chiểu, Tam Bình và Tam Phú sáp nhập lấy tên mới là phường Tam Bình. Địa danh Tam Bình thuộc huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định cũ. Tam Bình là ghép tên 3 thôn xưa (Bình Xuân, Bình Thắng, Bình Nhan) thành một làng của An Thổ, trong quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định thời Pháp thuộc. Năm 1987, tách ra thành ba xã Tam Bình, Tam Phú, Linh Đông. Năm 1997, các xã trở thành phường thuộc quận Thủ Đức, TPHCM. Tam Bình cũng là tên đường đã có từ lâu, gọi là đường liên xã Tam Bình - Bình Chánh, đến ngày 7.4.2000 thì đổi thành đường Tam Bình.

Các phường Bình Thọ, Linh Chiểu, Trường Thọ, một phần phường Linh Đông, một phần phường Linh Tây nhập lại thành phường Thủ Đức mới. Thủ Đức là tên vùng đất thuộc huyện An Ngãi, tỉnh Biên Hòa (đầu thế kỷ XIX), sau nhập vào tỉnh Gia Định (cuối thế kỷ XIX). Được gọi là quận từ năm 1940 đến 1975. Từ 1975 đến 1996 là một huyện của TPHCM, gồm một thị trấn và 22 xã. Thủ là đồn canh thời phong kiến, về sau chỉ chức vụ người đứng đầu một thủ, một đồn; Đức có lẽ là tên người. Ngoài ra, cũng có tài liệu cho rằng tên gọi Thủ Đức bắt nguồn từ tên hiệu Thủ Đức của ông Tạ Dương Minh (Tạ Huy) - người có công lao với vùng đất này. Văn tự Hán Nôm trên bia mộ ông Tạ Dương Minh ở phường Linh Chiểu có ghi: “Mộ ông Tạ Huy, hiệu Thủ Đức tiền hiền, thôn Linh Chiểu Đông nước Đại Nam. Ông mất ngày 19 tháng 6. Hương chức trong thôn lập mộ bia vào ngày lành tháng 2 năm 1890”. Một tài liệu khác ghi nhận thời Pháp thuộc, ngày 9.10.1868, tên Thủ Đức xuất hiện lần đầu với việc huyện Ngãi An tách ra lập khu thanh tra độc lập tên là Thủ Đức. Đến ngày 1.1.1911, tỉnh Gia Định được người Pháp chia thành 4 quận là Hóc Môn, Thủ Đức, Gò Vấp và Nhà Bè. Như vậy, tên gọi Thủ Đức xuất hiện cách đây ít nhất 157 năm.

Trong vùng này có giáo xứ tên Thủ Đức. Theo Sổ Rửa Tội đang lưu giữ tại nhà thờ  Thủ Đức thì lần đầu tiên cha Boutier đã ban nghi thức “bổ túc bí tích Rửa tội” vào ngày 4.8.1879 cho bà Maria Quí. 

Các phường Linh Trung, Linh Xuân và một phần phường Linh Tây nhập lại lấy tên mới là phường Linh Xuân. Đây vốn là tên một ấp sau nâng lên thành xã của tổng An Thủy, huyện Bình An, trấn Biên Hòa xưa. Từ sau 1915 thuộc huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định; sau nữa là phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, TPHCM. Linh Xuân cũng là tên con đường từ 7.4.2000, xưa vốn là đường làng.

Hai phường Long Bình và Long Thạnh Mỹ nhập lại lấy tên là phường Long Bình. Cái tên Long Bình gắn bó với những người Công giáo di cư về vùng đất này những năm sau 1954. Theo ghi chép ở giáo xứ Long Bình, vào năm 1954, một số giáo dân làng Bồ Ngọc ở miền Bắc đã vào Nam và tạm cư tại Hố Nai. Gần một năm sau, linh mục Micae Nguyễn Khắc Tuần OP đã đưa giáo dân ba làng Bồ Ngọc, Chi Lai và Nghĩa Chính cùng đến định cư ở cù lao Long Phước Thôn. Nhưng cù lao này cô lập, cuộc sống nhiều khó khăn, nên cha Micae cùng giáo dân hai làng Giáo Thiện, Bồ Ngọc đã di chuyển đến cánh đồng Tròn, thuộc xã Long Bình, huyện Thủ Đức, lập nên một giáo xứ mang tên là Đa Minh Phước, tức là phước lộc của thánh Đa Minh. Sau đó, giáo xứ đã được Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền đổi tên thành giáo xứ Long Bình, vì ngài muốn bổn đạo hội nhập với dân địa phương, trở nên muối men cho vùng đất Long Bình.

Hai phường Long Phước, phường Trường Thạnh nhập lại lấy tên là phường Long Phước. Địa danh Long Phước có từ thời Pháp thuộc, khi đó gọi là làng Long Phước Thôn, thuộc tổng Long Vĩnh Hạ, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định. Làng Long Phước Thôn được hình thành trên cơ sở sáp nhập năm làng có từ thời Nguyễn là Long Đại, Phước Hậu, Phước Khánh, Phước Thới và Trường Cửu. Sau năm 1956, các làng được gọi là xã. Trong giai đoạn 1957-1962, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đặt tổng Long Vĩnh Hạ thuộc quận Dĩ An, tỉnh Biên Hòa, xã Long Phước Thôn thuộc quận Dĩ An. Năm 1962, tổng Long Vĩnh Hạ lại được chuyển về quận Thủ Đức nên xã Long Phước Thôn thuộc quận Thủ Đức cho đến năm 1975. Sau năm 1975, xã Long Phước Thôn được đổi tên thành xã Long Phước thuộc huyện Thủ Đức, TPHCM. Long Phước cũng là tên đường làng có từ lâu đời, nằm trong xã Long Phước, sau năm 1997 là phường Long Phước.

Các phường An Khánh, phường An Lợi Đông, phường Thảo Điền, phường Thủ Thiêm và một phần phường An Phú sau khi nhập lại lấy tên mới là phường An Khánh. Năm 1944, An Khánh là thôn của tổng An Bình, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định. Trong các năm 1967-1975, là phường của quận 9, đô thành Sài Gòn. Từ ngày 20.5.1976, bốn khóm Đình, Cầu Cống, Bình Khánh 1, Bình Khánh 2, và khu Giãn Dân hợp lại thành xã An Khánh, huyện Thủ Đức. Từ 1997, An Khánh là tên một phường thuộc quận 2, TPHCM.

Các phường Bình Trưng Đông, phường Bình Trưng Tây và một phần phường An Phú nhập lại lấy tên mới là phường Bình Trưng. Năm 1836, Bình Trưng là thôn của tổng An Thủy Thượng, huyện Bình An, tỉnh Biên Hòa. Năm 1880 là xã của tổng An Bình, hạt Thủ Đức, tỉnh Gia Định. Năm 1944, vẫn thuộc tổng cũ, trong quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định. Năm 1972, là xã của quận và tỉnh cũ. Từ 1995-1997 là xã của huyện Thủ Đức. Từ 1997, Bình Trưng là tên một phường thuộc quận 2, TPHCM.

Hai phường Cát Lái và phường Thạnh Mỹ Lợi nhập lại lấy tên là phường Cát Lái. Theo một số nhà nghiên cứu, nếu viết “Cát Lái” là lỗi chính tả, chính xác phải là “Các Lái”, với nghĩa là các lái buôn. Bởi từ xa xưa, các lái buôn thường tụ tập mua bán ở khu vực trên, phần đông là đi bằng ghe bầu chở hàng hóa nông lâm - thổ - hải sản… từ miền Trung vào Gia Định, trong dân gian gọi tắt là dân “các lái”. Cụm từ “các lái” chỉ chung những người đi buôn bằng ghe bầu, cả chủ và bạn: chủ ghe được gọi là chủ lái, là người chủ lo chuyện buôn bán, giao hàng, nhận hàng, tiền bạc thu chi cho gia đình hoặc hãng xưởng của họ; song người quan trọng nhất trong mỗi chuyến đi là người (lèo) lái ghe bầu, được gọi là lái phụ, là người tổng chỉ huy (tổng lái) cho các bạn ghe (bạn lái) lèo lái chiếc ghe vượt qua “sóng to, gió dữ” để “đi đến nơi, về đến chốn”… Bản đồ Sài Gòn 1886 ghi địa danh này là “Vam Cac Lai”, tức là Vàm Các Lái, dấu vết của những lái buôn ghe bầu miền Trung vào. Cát Lái còn là tên của bến đò (phà) và tên sông ở xã Lý Nhơn, huyện Cần Giờ.

Các phường Hiệp Phú, Tân Phú, Tăng Nhơn Phú A, Tăng Nhơn Phú B, Long Thạnh Mỹ gộp lại lấy tên mới là phường Tăng Nhơn Phú. Đây vốn là tên xã thôn của tổng An Thủy, quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định (1944).

Phường Phước Bình, phường Phước Long A, phường Phước Long B sau khi sáp nhập thành phường mới là Phước Long. Và cuối cùng là hai phường Long Trường và phường Phú Hữu sáp nhập lấy tên mới phường Long Trường.

 Tài liệu tham khảo:

- Từ điển Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh (Thạch Phương - Lê Trung Hoa chủ biên)

- Địa danh ở Thành phố Hồ Chí Minh (Lê Trung Hoa)

- Từ điển địa danh Thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh (Lê Trung Hoa)

- Đường phố TPHCM ( Nguyễn Đình Tư - Nguyễn Quyết Thắng)

- Sài Gòn Năm Xưa (Vương Hồng Sển)

- Lược sử giáo xứ Long Bình và giáo xứ Thủ Đức (Tài liệu lưu hành nội bộ)

MINH HẢI thực hiện

tin liên quan

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Biển xanh vỗ về tình bạn
Biển xanh vỗ về tình bạn
Một buổi chiều mùa hè, tôi ngồi trên bãi cát, hướng mắt ra đường chân trời xa tắp - nơi màu xanh của biển và bầu trời hòa lẫn làm một.
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Giữa mảng xanh rộng lớn của khuôn viên nhà thờ Thánh Tâm, giáo hạt Hố Nai, GP Xuân Lộc, có nhiều bức tượng lớn với gam màu sáng.
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nhà thờ Suối Tre (giáo phận Xuân Lộc) do kiến trúc sư người Pháp vẽ mẫu vào khoảng năm 1958. Công trình được thi công trong giai đoạn 1961-1963, sử dụng nhiều vật liệu nhập từ Pháp như khung sắt và chuông.
Biển xanh vỗ về tình bạn
Biển xanh vỗ về tình bạn
Một buổi chiều mùa hè, tôi ngồi trên bãi cát, hướng mắt ra đường chân trời xa tắp - nơi màu xanh của biển và bầu trời hòa lẫn làm một.
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Những pho tượng đẹp ở xứ Thánh Tâm
Giữa mảng xanh rộng lớn của khuôn viên nhà thờ Thánh Tâm, giáo hạt Hố Nai, GP Xuân Lộc, có nhiều bức tượng lớn với gam màu sáng.
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nét kiến trúc độc đáo ở nhà thờ Suối Tre
Nhà thờ Suối Tre (giáo phận Xuân Lộc) do kiến trúc sư người Pháp vẽ mẫu vào khoảng năm 1958. Công trình được thi công trong giai đoạn 1961-1963, sử dụng nhiều vật liệu nhập từ Pháp như khung sắt và chuông.
Thử nhìn bằng góc nhìn của người khác
Thử nhìn bằng góc nhìn của người khác
Hồi còn nhỏ, nhà tôi có một cái bàn gỗ đặt gần cửa sổ, trên bàn có đủ thứ đồ, khi thì tập sách của anh em tôi, lúc lại là mấy cái điều khiển tivi mà chúng tôi cầm nhầm từ phòng khách làm người lớn cứ đi phải...
Nhà thờ bên đập nước
Nhà thờ bên đập nước
Đập Tam Giang là một công trình thủy lợi, và là thắng cảnh đẹp thu hút nhiều du khách đến thăm vùng quê thuộc địa phận huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên (cũ). Đập này được xây dựng chắn ngang con sông Cái - là nơi 3 dòng sông được...
Đến và trở về với Chúa
Đến và trở về với Chúa
Tôi từng nghĩ mình hiểu thế nào là đứng trước nỗi đau của một người khác, cho đến ngày mẹ của một người bạn tôi qua đời. Nhớ lại những ngày đầu năm 2026, đó là lúc chúng tôi đang trong kỳ thi cuối năm ba đại học.
Thánh tích Mẹ Têrêsa Calcutta tại giáo xứ Thanh Đa
Thánh tích Mẹ Têrêsa Calcutta tại giáo xứ Thanh Đa
Giáo xứ Thanh Đa (TGP TPHCM) từng đón tiếp Mẹ Têrêsa Calcutta hai lần vào các năm 1993 và 1994. Hiện nay, nhà thờ lưu giữ nhiều thánh tích của Mẹ, như tóc, máu và mảnh áo.
Thanh Hóa chuyện xưa  dấu cũ
Thanh Hóa chuyện xưa dấu cũ
Có một đặc điểm chung của những ngôi nhà thờ cổ được xây dựng ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, là dù có mặt tiền theo kiểu truyền thống hay một phong cách nào đó của châu Âu, thì kết cấu bên trong...
Y Vân và ca khúc bất hủ về mẹ
Y Vân và ca khúc bất hủ về mẹ
Trong kho tàng âm nhạc (tân nhạc) Việt Nam, có thể nói ca khúc Lòng Mẹ của Y Vân là một tác phẩm bất hủ. Nhiều người ví von đó là một bản “quốc ca” về tình mẫu tử - không chỉ bởi giai điệu mượt mà, lời ca giàu...