“Họ cầm nhành lá thiên tuế ra đón Người và reo hò ...” (Ga 12,13)
Reo hò, tiếng la lớn bày tỏ niềm vui, sự phấn khích hay thất vọng. Thánh Kinh thường nói về sự ca ngợi bằng các từ phản ảnh niềm vui của người nói và sự cao cả của Thiên Chúa.
Reo hò để phải nghe: “Sáng sớm Đavít dậy sớm... cậu đến trại binh quân đội đang ra trận và reo hò giao chiến” (1Sm 17,20). “(Dân) cứ một mực la lớn: Đóng đinh! Đóng đinh nó vào thập giá!” (Lc 23,21). Ông Phaolô nói với người Do Thái ở Giêrusalem, nhưng họ hô la, phất áo và tung bụi lên trời...” (Cv 22,23-24; x. Tl 7,20; 15,14; 2V 9,27; 2Sb 13,15; G 39,25; Tv 60,8; Xp 1,14; Mt 20,30-31; Ga 19,12; Cv 16,17; 17,6 21,36).
![]() |
Reo hò khi cùng quẫn: Côrắc chống đối Môsê và bị phạt “tất cả những người Israel đứng chung quanh nghe tiếng kêu la thì trốn chạy...” (Ds 16,34). Quỷ bị Chúa xua trừ, nó “xuất khỏi nhiều người, và la kêu rằng: Ông là Con Thiên Chúa” (Lc 4,41; x 1V 18,26-28; Lc 8,28; Cv 14,14 19,28; 21,28; 25,24).
Reo hò vì vui sướng: Được hồi hương và tái lập việc phụng tự “toàn dân lớn tiếng reo hò ca tụng Đức Chúa...” (Ed 3,11-13). Đón Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem, “dân cầm nhành lá thiên tuế ra đón Người và reo hò...” (Ga 12,13). Mô tả cảnh khải hoàn thiên quốc, ông Gioan ghi: “Tôi lại nghe như có tiếng hô của đoàn người đông đảo...” (Kh 19,6; x. Xh 32,17; Lv 9,24; Ds 23,21; 1Sm 4,6; 2Sm 6,19; 1V 1,3; 1Sb 15,28; 2Sb 15,14; G 3,7; 8,21; 33,26; 38,7; Tv 20,5; 33,3; 42,44; 65,13; Cn 11,10; Is 6,9-10; 26,19; Mt 21,15; Lc 17,15; Kh 5,12; 19,1).
Lệnh truyền phải reo vui khi chiếm Giêricô: “Khi tù và bằng sừng cừu rú lên, khi các người nghe tiếng tù và thì toàn dân lớn tiếng reo hò xung trận...” (Gs 6,5. “Vỗ tay đi nào muôn dân hỡi! Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo!” (Tv 47,1). “Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Sion, hò vang dậy đi nào, nhà Israel hỡi!” (Xp 3,14; x. Tv 66,1; 95,1; 100,1; Is 40,9; 44,23; Gr 31,7; Dcr 9,9).
LM. PHẠM QUỐC TÚY - GIÁO PHẬN PHÚ CƯỜNG

Bình luận