Năm Thánh 2025 khép lại với một sự kiện cũng không kém phần quan trọng trong sinh hoạt của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam: Đại hội Hội đồng Giám mục. Báo Công giáo và Dân tộc đã được Đức cha Giuse Nguyễn Năng, Tổng Giám mục TGP TPHCM - người vừa được HĐGMVN tín nhiệm bầu làm Chủ tịch thêm một nhiệm kỳ nữa - dành cho một cuộc phỏng vấn riêng. Xin giới thiệu cùng quý độc giả.

CGvDT: Kính thưa Đức Tổng, nhìn lại nhiệm kỳ vừa qua, công việc nào Đức Tổng cảm thấy hài lòng? Và điều gì theo Đức Tổng là đã ấp ủ nhưng chưa làm được?
- Đức TGM Giuse Nguyễn Năng: Giáo hội tại Việt Nam luôn cùng một nhịp sống với Giáo hội hoàn vũ. Tôi vui mừng khi thấy các giáo phận trong ba năm qua (2022-2025) đã tích cực thực hiện các hướng dẫn của Thượng Hội đồng Giám mục về “Hướng tới một Giáo hội hiệp hành: hiệp thông, tham gia, sứ vụ”. Khởi đầu đã có một chút do dự, chậm chạp, khi chưa quen với từ ngữ hoặc phong cách “hiệp hành”. Nhưng khi hiểu rằng, “hiệp hành” cũng chính là “hiệp thông”, là bản chất thiết yếu và thường hằng của Giáo hội, nên dần dần các cộng đoàn đã từng bước thực hành các hướng dẫn của Thượng Hội đồng. Các tín hữu đã ý thức hơn về phẩm giá cao cả và ơn gọi của một người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chăm lo bồi dưỡng đời sống nội tâm qua việc cầu nguyện với Lời Chúa và chầu Thánh Thể, hăng say tham gia vào các sinh hoạt mục vụ và bác ái. Đã có một sự chuyển biến tích cực, rộng khắp. Tuy nhiên, tất cả mới chỉ là khởi đầu cho một cuộc canh tân còn kéo dài nhiều năm. Giáo hội đã có thể tiến xa hơn nữa nếu mỗi thành phần, từ mục tử đến Dân Chúa, hăng say hơn, quyết tâm hơn. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhiều lần cảnh báo tâm lý thích cái cũ, không muốn đổi mới. Nhưng nếu không quyết tâm đổi mới theo lối sống hiệp hành, Giáo hội sẽ ngày càng tụt hậu và tính khả tín sẽ giảm dần trong thế giới hiện đại.
Theo Đức Tổng, trong 3 năm sắp tới của nhiệm kỳ mới, đâu là những thách đố của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam? Và chúng ta sẽ ưu tiên hoặc tập trung vào việc thực hiện vấn đề gì để vượt qua những khó khăn đó?
- Tôi giới hạn vào một điểm thôi: Thách đố của Giáo hội tại Việt Nam hôm nay là sống đức tin trong một xã hội đang phát triển. Việt Nam đã bắt đầu cuộc cải tổ lớn và toàn diện để phát triển kinh tế nhanh hơn, mà phát triển kinh tế thường sẽ kéo theo sự giảm sút trong đời sống tôn giáo và đạo đức - ở quốc gia nào cũng vậy. Nhiều người mải mê chạy theo tiền bạc hoặc các giá trị vật chất nên quên các giá trị đạo đức hoặc bỏ bê đời sống tâm linh. Tình trạng ấy đã xảy ra, và ngày càng lan rộng. Trong thời gian sắp tới, nhà nước sẽ dành một ngân khoản lớn cho giáo dục và văn hóa, mong rằng sẽ không chỉ chú trọng tới các sinh hoạt học vấn, văn hóa, nghệ thuật…, mà còn quan tâm về đào tạo phẩm chất đạo đức của một con người, chẳng hạn như lương tâm ngay chính, tinh thần trách nhiệm, các đức tính “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”… vốn là rường cột đạo đức của con người Việt Nam… Giáo hội tại Việt Nam cũng nên mạnh mẽ hơn nữa trong việc đào tạo các giá trị đạo đức này, đồng thời làm sao hướng dẫn để người trẻ phát triển kinh tế mà vẫn không đánh mất phẩm chất Kitô hữu.
Sự phát triển xã hội cũng sẽ dần dần làm thay đổi lối nhận thức ngay trong lòng Giáo hội. Nhiều người bắt đầu nhìn Giáo hội với não trạng “doanh nghiệp”, đặt ưu tiên cho tổ chức cơ cấu, cơ sở vật chất, hành chánh, thống kê, tính hiệu quả trong hoạt động…, đến nỗi coi nhẹ chiều kích mầu nhiệm, ít quan tâm tới điều thiết yếu là sống Tin Mừng để làm chứng cho Chúa, như Đức Thánh Cha Phanxicô đã cảnh báo trong tông huấn “Niềm vui Tin Mừng”.
Trong Đại hội lần thứ XV, HĐGMVN mời gọi tín hữu cùng sống tinh thần hiệp hành: “hiệp thông, tham gia, sứ vụ”. Đại hội lần thứ XVI, HĐGMVN đưa ra hướng dẫn mục vụ “quy về sứ mạng loan báo Tin Mừng”. Thưa Đức Tổng, có những nét tương đồng và khác biệt gì giữa hai định hướng trên? Ở quy mô toàn quốc, có những chương trình, đề án mục vụ gì chung? Trên bình diện từng giáo phận, HĐGMVN khuyến khích ưu tiên quan tâm vấn đề nào?
- Thực ra, kế hoạch mục vụ trong ba năm sắp tới 2026-2028 cũng chỉ là tiếp nối và triển khai kế hoạch của ba năm trước. “Hiệp thông và tham gia” là để thi hành “sứ vụ”. Mà sứ vụ thiết yếu và ưu tiên của Giáo hội không gì khác hơn là “loan báo Tin Mừng”. Chúa Giêsu đến trong trần gian là để loan báo Tin Mừng: “Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, vì tôi được sai đi cốt để làm việc đó” (Lc 4, 43). Người thiết lập Giáo hội cũng là để loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa: “Chúa Giêsu nói với các (Tông đồ): Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15). Kế hoạch loan báo Tin Mừng sẽ được thực hiện trong ba năm: năm 2026 trên bình diện cá nhân; năm 2027 trên bình diện cộng đoàn các giáo xứ và dòng tu; năm 2028 trên bình diện toàn quốc. Chia ra ba năm như thế không có nghĩa là tách biệt, vì ba bình diện ấy bao hàm lẫn nhau: đang khi thực hiện trên bình diện này thì vẫn thực hiện hai bình diện kia. Trong Thư Chung 2025, Hội đồng Giám mục đã đưa ra những đề án mục vụ chung để mỗi giáo phận sẽ triển khai cụ thể theo hoàn cảnh thực tế của địa phương mình.
Nói đến việc loan báo Tin Mừng, Đức Tổng vẫn luôn đề nghị không nên ồn ào bề ngoài, hô khẩu hiệu và làm theo phong trào rồi thôi. Hiểu theo một nghĩa nào đó, loan báo Tin Mừng hữu hiệu không thể đòi hỏi sự vội vã bằng những hoạt động mang tính nhất thời, hình thức…, mà là một quá trình dài lâu, là cách thực hành và quan niệm sống của mỗi Kitô hữu, trong tinh thần bám sát Tin Mừng, hiểu và sống đúng Lời Chúa. Thực tế cho thấy, Tin Mừng hiện diện trên quê hương Việt Nam đã gần 5 thế kỷ, có phát triển mạnh ở thời kỳ đầu, nhưng dường như bị chựng lại trong một thế kỷ qua (căn cứ vào tỷ lệ người Công giáo trên dân số). Theo Đức Tổng, đâu là nguyên nhân và chúng ta cần phải làm gì để cải thiện trong bối cảnh hiện tại? Người giáo dân ngày nay cần được đào tạo, thay đổi những gì? Và cả những linh mục, tu sĩ nữa?
- Loan báo Tin Mừng phải được đặt trong một mục tiêu lớn hơn, đó là Phúc Âm hóa thế giới. Mà Phúc Âm hóa thì không nhắm tới số lượng. Đúng là xét về tỷ lệ, việc loan báo Tin Mừng tại Việt Nam chưa đạt được thành quả ấn tượng, nhưng xét về việc Phúc Âm hóa, chắc chắn Tin Mừng đã thẩm thấu vào các sinh hoạt xã hội trên nhiều bình diện. Dù sao, cột mốc 500 năm Tin Mừng đến Việt Nam phải là một cơ hội để Giáo hội Việt Nam nhìn lại, để từ đó tìm thấy một động lực mới, thúc đẩy và nỗ lực nhiều hơn. Được bao nhiêu người nhận thức công việc loan báo Tin Mừng là yếu tính, là sứ mạng trường kỳ của Giáo hội, chứ không phải là trào lưu ngắn hạn theo thời vụ? Đức Thánh Cha Phanxicô đã định nghĩa: mỗi Kitô hữu phải là “một môn đệ thừa sai”. Loan báo Tin Mừng không là quảng cáo một sản phẩm tôn giáo, cũng chẳng phải là tuyên truyền để chiêu dụ tín đồ, mà là sự tuôn trào của niềm vui từ trong lòng người môn đệ vì đã đầy Chúa, là sức hấp dẫn của một cuộc đời thánh thiện vì đã được Tin Mừng biến đổi. Vì thế, khi đưa ra kế hoạch loan báo Tin Mừng, Hội đồng Giám mục không nhắm thực hiện một phong trào ồn ào theo kiểu “ra quân”, nhưng đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng và ưu tiên của đời sống nội tâm, với cuộc sống thánh thiện để làm chứng cho Chúa. Càng có nhiều Kitô hữu có đời sống nội tâm phong phú và trung thành sống theo Lời Chúa, thì càng có nhiều nhà thừa sai hăng say nhiệt thành với sứ mạng. Các Tông đồ đã là chứng nhân, các thánh và các vị thừa sai đã là chứng nhân, Kitô hữu trước hết cũng phải là chứng nhân. Các Tông đồ cảm nhận được sự thúc bách từ bên trong: “Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” (Cv 4,20). Cũng có thể hiểu ngược lại: “không thể nói ra vì tai chưa nghe, mắt chưa thấy”. Không cảm nhận được hạnh phúc và niềm vui của Tin Mừng trong lòng mình thì không thể loan báo cho một ai. Ly nước không đầy thì làm sao tràn ra ngoài. Đời sống nội tâm và cuộc sống thánh thiện luôn và sẽ là yếu tố quyết định cho tương lai của công cuộc loan báo Tin Mừng tại Việt Nam. Phải xác tín điều này và phải bắt đầu từ đây. Ngay cả các hoạt động bác ái, nếu được thực thi trong Chúa, bởi Chúa, theo kiểu của Chúa, thì mới đem lại hiệu quả Phúc Âm hóa cao; bằng không, đó cũng chỉ là hoạt động từ thiện xã hội mà thôi. Vì thế, tất cả mọi thành phần Dân Chúa, từ các mục tử đến tu sĩ, chủng sinh, giáo dân, đều cần được Chúa Thánh Thần đào tạo liên tục từng ngày để trở thành “môn đệ” đậm chất Tin Mừng hơn, vì có như vậy mới có thể là những “thừa sai” nhiệt thành dấn thân cho sứ mạng. Nếu chính bản thân mình không thực sự trở thành “môn đệ” chính danh, thì làm sao dám nói đến “thừa sai”; nếu có nói thì cũng chỉ là hô khẩu hiệu.
thì càng có nhiều nhà thừa sai hăng say nhiệt thành với sứ mạng
Đức cố Giáo Hoàng Phanxicô từng xác định: “Truyền thông là một hành vi tình yêu”. Thư Chung năm 2022 và năm 2025 của HĐGMVN đều nhấn mạnh đến việc sử dụng các phương tiện truyền thông để loan báo Tin Mừng. Đặc biệt, Thư Chung lần này gợi ý với các tín hữu cả nước: Hãy có mặt trong môi trường kỹ thuật số với ý thức chúng ta là các môn đệ được Chúa trao cho sứ mạng “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm”. Đức Tổng cũng thường căn dặn: “Truyền thông Công giáo phải được thực hiện trong bác ái và sự thật, với tinh thần trách nhiệm”. Xin Đức Tổng nói thêm những lưu ý trong việc sử dụng phương tiện truyền thông của các cộng đoàn đức tin, cũng như với từng giáo hữu hiện nay? Chúng ta cần vận dụng truyền thông như thế nào để hỗ trợ việc truyền giáo cho hiệu quả?
- Trong thế giới hiện đại, môi trường kỹ thuật số là một lục địa mới, với số công dân (netizen) có thể lên tới 4/5 nhân loại. Mạng xã hội có tầm ảnh hưởng sâu xa và rộng lớn trên đời sống con người, có thể làm thăng tiến mà cũng có thể giết chết con người. Sức mạnh của mạng xã hội lớn gấp bội sức mạnh của vũ khí. Giáo hội rất quan tâm tới tầm ảnh hưởng và sự phức tạp của vấn đề này, nên đã công bố nhiều tài liệu hướng dẫn sử dụng mạng xã hội cách khôn ngoan và đạo đức, nhất là đối với kỹ thuật AI. Có thể tóm tắt ít nguyên tắc như sau: Thứ nhất, cần phân định đâu là sự thật. Khi đọc một bản tin, trước hết phải đặt câu hỏi: điều này có thật không, có đúng không, có đáng tin không? Không phải tất cả những gì mạng xã hội cung cấp cũng đều đúng đều thật. Có nhiều điều sai trái, lừa dối trong đó. Có nhiều điều nhìn bên ngoài là thật, nhưng lại không đúng sự thật của vấn đề. Cần biết kiểm tra và phân định. Nếu không tự phân định được thì cần hỏi những người có khả năng và kinh nghiệm. Cũng thế, khi gởi đi một bản tin, bằng chữ viết hoặc hình ảnh, thì chỉ được đưa lên những gì chắc chắn là thật, là đúng. Kitô hữu là người của sự thật, nên chỉ gởi đi những bản tin đúng sự thật, và không được gởi những bản tin sai lầm, tin giả mạo (fake news), gieo rắc nghi ngờ. Kế đến, cần nói sự thật trong đức ái. Không thể dựa vào nguyên tắc hay nhân danh sự thật để xúc phạm tới danh dự và phẩm giá của người khác. Luật xã hội cũng như luật Tin Mừng nghiêm cấm điều đó. Người Kitô hữu không được phép vu oan, nói xấu, hạ nhục, đưa lỗi lầm của người khác lên mạng; cũng không được gieo rắc bất hòa, nghi ngờ, chia rẽ trong cộng đoàn; không được dùng ngôn ngữ hận thù và bạo lực. Đừng quên rằng, làm những việc này đều là gây nên tội luân lý xúc phạm tới Chúa và anh chị em. Một cách tích cực, Kitô hữu hãy “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp”. Điều thứ ba cũng rất quan trọng, đó là đừng nô lệ vào các phương tiện kỹ thuật mà quên gặp gỡ tiếp xúc những con người cụ thể, sống tình người với những người chung quanh. Chính các mối tương giao giữa người với người mới làm cho đời sống có ý nghĩa và quân bình.
Thực hiện được những điều trên đây đã là một cách Phúc Âm hóa xã hội có chiều sâu. Một Kitô hữu đầy Chúa sẽ có nhiều sáng kiến để giới thiệu Chúa cho tha nhân. Hiện nay đã có nhiều ứng dụng kỹ thuật số vào mục vụ để giảng dạy giáo lý, Kinh Thánh, lịch sử Giáo hội… cho các Kitô hữu; nhưng để loan báo Tin Mừng cho lương dân, hình như chưa có gì hoặc có rất ít. Nếu một người lương dân bắt đầu muốn tìm hiểu về đức tin Kitô giáo, họ có thể tìm được gì trên mạng xã hội? Đã có gì dành riêng cho anh chị em lương dân để họ cảm nhận được Chúa yêu thương họ chưa?
để xúc phạm tới danh dự và phẩm giá của người khác
Nhân dịp năm mới, xin Đức Tổng - trên cương vị là Chủ tịch HĐGMVN - có một lời cầu chúc với toàn thể người Công giáo Việt Nam trong và ngoài nước.
- Nhân dịp năm mới Bính Ngọ, cùng với quý Đức cha trong HĐGMVN, tôi kính chúc toàn thể cộng đoàn Dân Chúa, trong nước cũng như hải ngoại, một năm bình an, bình an toàn diện: trong tâm hồn cũng như nơi thân xác, trong đời sống cá nhân cũng như trong gia đình và cộng đoàn, ở bình diện quốc gia cũng như trên toàn thế giới. Theo Kinh Thánh cũng như dựa vào kinh nghiệm cá nhân, chúng ta nhận ra rằng, rốt cuộc bình an là ơn lớn nhất, căn bản nhất. Dù thiếu thốn hoặc khó khăn gian khổ, nhưng nếu có bình an, cuộc sống vẫn hạnh phúc. Ngược lại, dù có tất cả mọi sự nhưng không có bình an thì mọi chuyện cũng trở thành vô nghĩa. Thật khó để có sự bình an toàn diện này, nên phải cầu xin. Bình an là ơn Chúa. Nhưng cùng với lời cầu nguyện, mỗi người hãy trở thành khí cụ kiến tạo sự bình an. Một đàng thì xin ơn bình an, nhưng đàng khác lại làm hoặc nói những điều tạo bất an cho bản thân hoặc gây bất hòa chia rẽ cho cộng đoàn, thì làm sao có sự bình an, biết đến bao giờ mới có bình an? Vì thế, cùng với lời cầu chúc bình an, tôi cũng kính chúc quý vị dồi dào ân sủng và tình yêu của Chúa.
Chúng con xin hết lòng cảm ơn Đức Tổng.
MIÊN KHANG - CÁT KHÊ
thực hiện
Bình luận