Thi thoảng có dịp dự thánh lễ hoặc các buổi cầu nguyện Taizé ở nhà nguyện cổ trong khuôn viên Trung tâm Mục vụ TGP TPHCM, tôi không ít lần ngang qua khu vực lưu giữ hài cốt của các linh mục ngoại quốc. Họ là những thừa sai đã dành cả cuộc đời cho sứ vụ truyền giáo ở Á châu, đặc biệt là khu vực Ðông Dương. Dừng lại nguyện đôi lời kinh cho các ngài trong một chiều đầu tháng 11, có dịp ngắm nhìn kỹ hơn những cái tên khắc trên từng hũ cốt. Dù thông tin chỉ vắn vỏi năm sinh, năm mất…, nhưng trong tôi dưng không dấy lên niềm xúc cảm sâu xa, về những người mục tử thầm lặng, mà có lẽ sau lớp tro tàn kia là câu chuyện về biết bao di sản họ để lại nơi đất Nam Bộ này.

DI SẢN BỀN VỮNG TRÊN ĐẤT NAM BỘ
Hiện diện khiêm tốn phía cuối nhà nguyện cổ, nơi lưu giữ tro cốt của 86 vị thừa sai chỉ đơn sơ là 2 tủ gỗ, đặt ở góc gần lối ra vào hai bên hông dãy nhà. Ở mỗi tủ chia thành 5 ngăn, mỗi ngăn xếp từ 8-9 hũ, cửa tủ được thiết kế dạng kính trong, với hai cánh lùa đơn giản. Mỗi hũ cốt được khắc số từ 1-85, theo thứ tự thời gian qua đời của từng vị, trong đó người mất sớm nhất mà chúng tôi ghi nhận được là năm 1811, và vị gần đây nhất mất năm 1972. Riêng linh mục Jacobus Liot (1778-1811) không được đánh số, có lẽ cha được cải táng riêng và đưa về đây sau này.
Lần giở những tư liệu để có thêm thông tin, chúng tôi chỉ thu lại được những dòng ghi chép vắn vỏi, đa số là góp nhặt từ lược sử của những nơi mà các cha đã hiện diện và làm mục vụ. Để nói về cuộc đời hay công trạng của từng vị thì quả thật là hiếm hoi và khó trích lục.
Ngược dòng thời gian, sự hiện diện của các linh mục thừa sai được ghi nhận lần đầu tiên là vào nửa đầu thế kỷ XVI, nổi bật là công cuộc truyền giáo của các cha dòng Tên. Tiếp nối những bước đầu sơ khai đó, Giáo hội tại Việt Nam chính thức thành lập hai giáo phận đầu tiên năm 1659, theo đó, Đức cha Francois Pallu coi sóc giáo phận Đàng Ngoài, và Đức cha Pierre Lambert de la Motte được bổ nhiệm làm Giám quản Tông tòa Giáo phận Đàng Trong. Cùng thời điểm này, Đức cha Francois Pallu bắt đầu thành lập Hội Thừa sai Hải Ngoại Paris (M.E.P) để phục vụ cho công cuộc truyền giáo ở khu vực châu Á và Ấn Độ dương.
Trở lại nơi an nghỉ của 86 vị thừa sai, vị hiện diện lâu đời nhất là cha Jacobus Liot, ngài đến Sài Gòn năm 1779, và linh mục gần nhất là cha René Martin, với sứ vụ ban đầu tại đất Campuchia năm 1952. Dầu vậy, theo ghi nhận, phần đông các thừa sai hiện diện và phục vụ tại giáo phận Tây Đàng Trong chủ yếu những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Sau khi qua đời, các cha đều được an táng tại nghĩa trang của Hội Thừa sai Paris tại Việt Nam, nghĩa trang này cũng là nơi có phần mộ của cha Bá Đa Lộc (1741-1799), sau này được biết đến với tên gọi Lăng Cha Cả.
Đến khoảng năm 1980, để phát triển đô thị và hạ tầng giao thông trong khu vực, toàn bộ nghĩa trang rộng hơn 2000 mét vuông được tiến hành giải tỏa trong khoảng 3 năm. Hài cốt của Đức cha Bá Đa Lộc được trao lại cho Tổng lãnh sự Pháp và hồi hương về trụ sở Hội Thừa Sai Paris; trong khi đó, mộ của các thừa sai còn lại trong nghĩa trang được cải táng về Đại Chủng Viện thánh Giuse và đặt trong nhà nguyện cổ, nơi họ an nghỉ cho đến ngày nay.
ĐÓNG GÓP TRONG ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN
Có thể nói, các thừa sai đã đặt nền tảng cho sự phát triển của Giáo phận Tây Đàng Trong lúc bấy giờ. Trong số hài cốt tại nhà nguyện, chúng tôi ghi nhận được có phần tro cốt của cha Anselmus Delignon (1865-1933), từng là Giám đốc Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn trong hai nhiệm kỳ, sau đó được bổ nhiệm làm Giám mục phó GP Tây Đàng Trong năm 1909. Ngoài ra còn có cha Albertus Delagnes (1875-1965), đảm nhận vai trò Giám đốc Đại Chủng viện từ năm 1930 đến 1952. Các linh mục này góp một phần quan trọng trong việc đào tạo các giáo sĩ địa phương và cung cấp nhân sự cho cả vùng Tây Đàng Trong rộng lớn.
Đây còn là nơi an nghỉ của các thừa sai từng là giáo sư của Đại Chủng viện, như linh mục Jacobus Hirbec (1842-1885), Felix Humbert (1850-1917), Augustinus Abonnel (1854-1930), Eugenius Mugnier (1880-1923), Joseph Bousseau (1872-1935), và Julianus Thiriet (1839-1897) - Giám đốc thứ hai của chủng viện. Bên cạnh đó, còn có cha Benoit Chambost (1837-1886), xưa ngài chủ yếu giảng dạy tại Tiểu Chủng viện Làng Sông. Có thể nhận ra rằng, một lượng lớn thừa sai tham gia đào tạo giáo sĩ bản xứ cho thấy các ngài chú rất trọng việc xây dựng nguồn nhân lực địa phương. Mục tiêu ngày đó là hình thành nên lớp giáo sĩ được đào tạo bài bản, nhằm đảm bảo tương lai bền vững cho Giáo hội tại Việt Nam, không lệ thuộc vào nguồn nhân lực từ hải ngoại, đặt nền móng cho việc thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam về sau.
Tro cốt nơi nhà nguyện hôm nay cũng còn lưu giữ nhiều tên gọi của những vị tiền bối có công trạng trong nền giáo dục xưa. Như linh mục Henri Dekerlan (1844-1877), người đã sáng lập trường Lasan Taberd năm 1874, cùng với cha Alphonsus Joubert (1847-1925) làm giám đốc tiên phong. Hay Đức Giám mục Comstant Jean Ningros (1870-1921) thành lập trường College de Quinhon (1913), nay là trường Quốc học Qui Nhơn; ngài cũng là người đặt nền móng cho trường Gagelin (1920); trong khi cha Philibertus Brun (1868-1922) đứng ra vận động thành lập trường Sư huynh La San tại Sóc Trăng. Những cơ sở này giúp phổ cập kiến thức và kỹ năng theo mô hình Tây phương, đồng thời nuôi dưỡng thế hệ trí thức bản địa.
Về lĩnh vực ngôn ngữ, dịch thuật và xuất bản, chúng tôi tìm được tư liệu về linh mục Franciscus Génibrel (1851-1914), cha là người hiệu đính và tái bản ba lần cuốn Cẩm Nang giao tiếp, giúp chuẩn hóa ngôn ngữ và hỗ trợ giao tiếp giữa người Việt và người Pháp lúc bấy giờ. Còn cha Denys Jourdain (1812-1871) là người đã dịch các tác phẩm về vũ trụ học và hình học sang tiếng Latinh (1848), đưa tri thức khoa học phương Tây vào môi trường đào tạo chủng viện. Ngoài ra còn có linh mục Paul Marcel Simon (1844-1908), vốn nổi bật với sứ vụ truyền giáo và y tế, nhưng thật thú vị là từng biên soạn một cuốn sách nấu ăn bằng tiếng An Nam, kết hợp kiến thức ẩm thực và đời sống dân địa phương, nhằm giúp cải thiện dinh dưỡng và đời sống thường nhật của giáo dân.
Xem qua các chương trình những vị thừa sai đã làm, chúng tôi nhận ra các ngài rất quan tâm phát triển hệ thống y tế tại khu vực Nam Bộ và các vùng lân cận. Điển hình có cha Jean Marie Favier (1846-1911) được ghi nhận là người thành lập bệnh viện Trà Vinh, nhằm phục vụ nhu cầu chữa bệnh cho người địa phương. Tương tự, Giám mục Constant Jean Ningros thành lập bệnh viện tại Kim Châu (1913), song song với việc xây dựng trường học ở Qui Nhơn như đã đề cập ở trên.
Vì Sài Gòn xưa là trung tâm của Giáo phận Tây Đàng Trong, nên đây còn là đầu mối cho việc điều hành công việc truyền giáo của MEP, mở rộng sang vùng Campuchia, Lào, Thái Lan... Nhiều thừa sai như Joannes Lazard, Léon Quibé, Adol Phus, René Martin, Jean Marie Bouchut… phục vụ tại các nước láng giềng, sau khi qua đời cũng được chôn cất tại nghĩa trang các thừa sai ở Việt Nam, và nay an nghỉ tại nhà nguyện.
Một thoáng nhìn lại là không đủ để kể hết cuộc đời của từng vị, những người đã rời xa quê cha đất tổ, đến vùng Á châu xa xôi còn nhiều ngăn trở, thử thách trăm bề. Dẫu những nỗ lực ấy không phải lúc nào cũng được ghi chép đầy đủ, di sản của các vị vẫn hiện hữu, ở nơi chủng viện, trong trường học, bệnh viện, nhà thờ, và trong cả nhịp sống nơi xứ đạo mà họ góp phần hình thành. Mỗi cái tên khắc trên hũ cốt, khiêm nhường thôi, nhưng nhắc cho hậu bối nhớ về những cuộc đời đã ghi nhiều dấu ấn không thể xóa nhòa trong suốt dòng lịch sử…
Anh Thư
Bình luận