Cách nay khoảng 7 năm, sau khi nghe một số thuyết trình về truyền giáo, có người đến gặp tôi đề xuất: “Xin Đức cha nói bề trên cho chúng con đi truyền giáo”. Tôi nói “Từ từ, đi ngay bây giờ thì chỉ có chết; về nhà tĩnh tâm và củng cố đời sống Kitô hữu vài tháng, sau đó may ra mới đi truyền giáo được”.

Ngay từ Tông huấn đầu tiên trong tư cách Mục tử của Giáo hội hoàn vũ, ĐTC Phanxicô đã khẳng định: “Mọi thành phần Dân Chúa phải trở nên những môn đệ thừa sai” (Niềm vui Tin Mừng, số 120). Muốn là thừa sai, trước hết phải là môn đệ, và một khi thực sự là môn đệ, đương nhiên sẽ là người thừa sai nhiệt thành.
Khi nói đến kế hoạch loan báo Tin Mừng, hoặc truyền giáo hay thừa sai, có lẽ nhiều người lên phương án sẽ thực hiện các hoạt động bác ái xã hội, những đoàn xe cứu trợ, những buổi sinh hoạt gặp gỡ lương dân, sản xuất những video clip về đạo… Những việc này là tốt, nhưng trước hết còn có những điều cốt yếu hơn. Trong Thư Chung 2025, Hội đồng Giám mục đã định hướng cơ bản cho công cuộc loan báo Tin Mừng: người môn đệ thừa sai cần tiếp nhận ánh sáng từ Chúa rồi chiếu tỏa ánh sáng ấy cho mọi người.
NGƯỜI MÔN ĐỆ ĐẦY NIỀM VUI TIN MỪNG
Muốn loan báo Tin Mừng, trước hết người thừa sai phải đầy niềm vui Tin Mừng trong lòng và đời sống của người thừa sai phải thấm nhuần Tin Mừng. Đó là điều tất yếu. Có thể nhiều người coi việc loan báo Tin Mừng giống như quảng cáo, tuyên truyền hoặc truyền thông xã hội hay hoạt động nhân đạo, nên áp dụng đủ mọi kỹ thuật, nhất là thời đại hôm nay có thể nhờ AI thực hiện nhiều điều kỳ diệu cách dễ dàng. Hoàn toàn sai lầm. Có lẽ vì lầm tưởng như vậy nên các Kitô hữu không lo bồi dưỡng đời sống nội tâm, và chính vì thế, hoạt động loan báo Tin Mừng không đem lại nhiều hoa trái.
Chúa Giêsu, Đấng rao giảng Tin Mừng tuyệt hảo, là người luôn kết hợp với Chúa Cha và đầy Thánh Thần. Ngài đã cầu nguyện trong đêm khuya hoặc sáng sớm để có thần lực rao giảng Tin Mừng. Nếu không kết hợp mật thiết với Chúa, người môn đệ không thể sinh hoa trái. Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu sai các Tông đồ đi rao giảng Tin Mừng, nhưng đồng thời cũng căn dặn trước hết hãy trở về Giêrusalem cầu nguyện chờ đợi Chúa Thánh Thần. Các ngài đã cầu nguyện 10 ngày, và sau khi nhận được Chúa Thánh Thần, các ngài ra quảng trường Giêrusalem giảng - có lẽ 10 phút - với lời lẽ bình dân của những người dân chài, và kết quả là 3.000 người tin. Ngày nay chúng ta chỉ cầu nguyện 10 phút, rao giảng 10 ngày, với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, và kết quả may ra được 3 người.
Muốn trở thành thừa sai, các Kitô hữu phải đầy Chúa, đầy Lời Chúa, đầy tình yêu và sự sống thần linh của Chúa. Làm sao có thể nói hay làm chứng về Chúa nếu Chúa chưa đầy trong lòng người môn đệ? Ồn ào theo kiểu phong trào mà lòng không đầy Chúa thì chẳng kết quả gì.
Trong những năm gần đây, nhiều Kitô hữu bắt đầu tham dự các khóa tĩnh tâm, học hỏi Lời Chúa, cầu nguyện với Lời Chúa, chầu Thánh Thể riêng tư trong thinh lặng, chứ không chỉ dừng lại ở việc tham dự các nghi lễ cách chiếu lệ. Đó là một tín hiệu tốt đẹp. Hy vọng ngày càng có nhiều người quan tâm củng cố đời sống nội tâm, nhờ đó người môn đệ cảm nhận được niềm vui sâu xa và hạnh phúc của đời sống Kitô hữu. Vì không cảm nhận được hạnh phúc và niềm vui của Tin Mừng trong lòng mình thì không thể loan báo cho một ai. Rao giảng Tin Mừng phải là kể chuyện Chúa Giêsu đã cứu và biến đổi cuộc đời mình.

DÁM SỐNG TIN MỪNG
Thừa sai không phải là người quảng cáo một sản phẩm tôn giáo, nhưng là người làm chứng về sự sống mới trong Chúa Giêsu. Vì thế, đời sống của người thừa sai phải thực sự thấm nhuần tinh thần Phúc Âm để trở thành bản diễn giải cụ thể về đức tin Kitô giáo.
Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI đã đặt ra ba câu hỏi cho người loan báo Tin Mừng: “Bạn có tin điều bạn rao giảng không? Bạn có sống theo những gì bạn tin không? Bạn có loan báo những gì bạn sống không?… Nếu không có những dấu chỉ thánh thiện thì lời nói của chúng ta khó mà đi vào lòng con người thời đại hôm nay. Nó có nguy cơ trở thành uổng công và vô hiệu” (Loan báo Tin Mừng số 76). Làm sao người ta có thể tin vào lời rao giảng về Chúa Giêsu nếu chính các môn đệ của Chúa không sống theo Lời Chúa dạy? Làm sao công cuộc loan báo Tin Mừng đem lại kết quả nếu đời sống của các Kitô hữu lại đi ngược với giáo huấn của Tin Mừng, còn nhiều bất công gian dối, còn vi phạm công bằng xã hội; nếu các gia đình chưa thực sự tỏa chiếu niềm vui của tình yêu hôn nhân? Làm sao người ta có thể tin Chúa Giêsu nếu các cộng đoàn còn nhiều bất hòa chia rẽ, còn hận thù, công kích, loại trừ nhau? Đức Phanxicô đã nêu lên thực trạng đau buồn này: “Tôi rất đau lòng khi thấy một số cộng đoàn Kitô hữu, thậm chí cả những người thánh hiến, có thể dung dưỡng những hình thức thù nghịch, chia rẽ, vu khống, nói xấu, oán thù, đố kỵ và ước muốn áp đặt một số ý tưởng bằng bất cứ giá nào, thậm chí bằng các hành động bách hại giống như những cuộc săn lùng phù thủy thực sự. Chúng ta sẽ rao giảng Tin Mừng cho ai nếu chúng ta hành động theo cách này?” (Niềm vui Tin Mừng, số 99).
Chính đời sống thánh thiện của những người môn đệ là một lời chứng có sức hấp dẫn mạnh mẽ hơn cả trăm lời nói. Trong bài giảng khai mạc Hội nghị Aparecida năm 2007, Đức cố Giáo Hoàng Bênêđictô XVI nói: “Giáo hội không hoạt động bằng việc chiêu dụ tín đồ. Trái lại, Giáo hội lớn mạnh nhờ ‘sự thu hút’: cũng như Đức Kitô ‘kéo mọi người về với mình’ bằng quyền năng tình yêu của Ngài, mà tột đỉnh là hy tế trên Thập giá, thì Giáo hội chu toàn sứ mạng của mình tới mức độ, trong sự hiệp nhất với Đức Kitô, Giáo hội thực hiện mọi công việc của mình theo cách noi gương thiêng liêng và cụ thể của tình yêu của Chúa”.
Cách riêng, tình yêu đối với người nghèo khổ bé mọn là dấu chứng cao cả của đức tin Kitô giáo và có sức hấp dẫn rất lớn. Các hoạt động bác ái làm cho các môn đệ trở thành những thừa sai đáng tin. Trong lịch sử của Giáo hội, các hoạt động bác ái luôn là một chứng từ dễ hiểu, đáng tin và đem lại kết quả lớn. Thực ra, thương yêu cứu giúp người nghèo khổ tự bản chất là hoạt động nhân đạo, là tình tương thân tương ái của đồng loại với nhau. Nhưng nếu được thực hiện theo tinh thần Phúc Âm, các hoạt động ấy sẽ trở thành việc bác ái làm chứng cho tình yêu của Đức Kitô: làm vì nhận ra Chúa nơi người nghèo khổ bé mọn, làm với trái tim của Chúa, với tình yêu vị tha, với lòng quảng đại vui tươi, khiêm tốn, vô vị lợi, hy sinh và dám liều chính bản thân. Các hoạt động bác ái của các cộng đoàn trong 2 năm đại dịch Covid-19 là một minh chứng hùng hồn. Nhưng việc bác ái không phải chỉ được thực thi trong những biến cố lớn như khi có thiên tai, đại dịch, mà còn phải được thể hiện trong cuộc sống hằng ngày, cho những người bé mọn đau khổ ở ngay bên cạnh, trong các khu xóm.
DÁM NÓI VỀ CHÚA
Việc loan báo Tin Mừng khởi đi từ xác tín: Thiên Chúa muốn tất cả mọi người nhận biết Chúa để được cứu độ. Không ai bị gạt bỏ khỏi tình thương cứu độ của Thiên Chúa. Một xác tín khác cũng rất quan trọng: tất cả mọi người đều có quyền nghe Tin Mừng cứu độ. Chính vì ai cũng có quyền nghe, nên các môn đệ của Chúa có bổn phận phải giới thiệu. Quyền tự do tôn giáo không cho phép áp đặt một ai phải theo tôn giáo nào, không được chiêu dụ tín đồ, nhưng không phải vì vậy mà không được phép chia sẻ cho nhau niềm vui và hạnh phúc của cuộc đời, không được giới thiệu một con đường dẫn đến ánh sáng và yêu thương. Các Kitô hữu có thể rất hăng say nhiệt thành làm việc bác ái, đó là điều tốt. Nhưng đừng quên rằng rao giảng Tin Mừng là việc bác ái cao cả nhất, vì khi trao tặng Tin Mừng, chúng ta trao tặng chính Chúa Giêsu là quà tặng thần linh, là chính sự sống đời đời, là hạnh phúc vĩnh cửu, chứ không phải chỉ là trao tặng sự sống thể xác, sự sống giới hạn ở đời này.
Có nhiều và rất nhiều môn đệ “giữ đạo” tốt, nhưng lại thiếu sự hứng khởi thiêng liêng để “dám” nói về Chúa. Mà có khi trong lòng cũng chẳng có gì để nói, vì chưa đầy ắp. Ước gì các Kitô hữu mạnh dạn nói về Chúa với những người mình gặp gỡ hằng ngày, trong khu xóm, nơi phố chợ, tại môi trường làm việc. Đầy trong lòng thì sẽ tràn ra ngoài. Một lời nói thăm hỏi, một sự quan tâm đến nhu cầu của tha nhân, một cuộc gặp gỡ nồng ấm tình người…, tất cả đều có thể mở đường cho những câu chuyện sâu xa về ý nghĩa cuộc đời, về cuộc sống mai hậu, về vị Cứu tinh của nhân loại.
Trong mùa Vọng chuẩn bị Giáng Sinh, có một anh hớt tóc Công giáo thấy có một cụ bên lương ngày nào cũng đến xem giáo khu làm đèn và hang đá. Anh hỏi: cụ thấy đẹp không, cụ có muốn làm không? Cụ đáp: tôi thích lắm nhưng không biết làm. Vậy là anh đến giúp cụ. Sau khi có được ngôi sao Giáng Sinh đẹp, cụ đã treo trước cửa nhà và còn dặn thêm: khi nào anh đi lễ Noel, anh gọi tôi đi với. Chỉ một câu hỏi: cụ có muốn làm không? Một lời nói đơn sơ phát xuất từ tấm lòng yêu mến, có thể là khởi đầu để đưa một người đến gặp gỡ Đức Kitô. Hãy dám nói. Các Tông đồ đã mạnh dạn nói về Đấng Phục Sinh. Người môn đệ thừa sai là người gieo hạt giống không tiếc tay, không tiếc hạt giống, không tính toán, không quá lo xa, không sợ hạt giống rơi bên vệ đường hay vào sỏi đá. Một hạt giống hôm nay có thể rơi bên vệ đường, nhưng biết đâu một ngày nào đó sẽ có cơn gió Thần Khí thổi vào đất tốt.
Đừng quên một điều rất quan trọng là Chúa Thánh Thần là tác nhân chủ yếu của công cuộc loan báo Tin Mừng. Vì thế, cầu nguyện luôn là quan trọng nhất. Phong trào Cursillo có một nguyên tắc rất hay: trước hết “hãy nói với Chúa về bạn”, và sau đó đến với bạn để “nói với bạn về Chúa”, rồi lại tiếp tục “nói với Chúa về bạn”. Cứ gieo hạt rồi phó thác. Gieo hạt xong rồi đi ngủ!
Nguyện xin Chúa Thánh Thần đổ lửa và nổi gió trong lòng người môn đệ hôm nay.
Tổng Giám mục Giuse NGUYỄN NĂNG
Bình luận