VẸN NGUYÊN TÊN GỌI QUÊ NHÀ
Tiếp nối mạch nguồn ký ức quê nhà tại Xóm Mới, những giáo xứ như Thái Bình, Tử Ðình, Lạng Sơn, Lam Sơn và Thạch Ðà không chỉ là nơi quy tụ đức tin, mà còn là chốn lưu giữ những truyền thống, nếp sống đậm chất miền Bắc. Từ những căn nhà tạm bợ buổi đầu, các giáo đoàn đã kiên trì xây dựng nên những ngôi thánh đường khang trang, đồng thời phát huy tinh thần bác ái, hiệp nhất, biến tên gọi cố hương thành động lực phát triển trên vùng đất mới.
Nằm cạnh nhà thờ Hà Nội, cách chừng 200 mét, có một xứ đạo cũng mang theo tên gọi quê nhà đến nơi ở mới, giáo xứ Thái Bình những ngày đầu manh nha khoảng 15 hộ gia đình Công giáo, gốc ở xứ Thân Thượng, giáo phận Thái Bình. Năm 1955, linh mục Batôlômêô Nguyễn Quang Ân quy tụ các gia đình này và lập nên trại Thái Bình, về sau, nhiều gia đình khác thuộc các họ giáo như Bình Hải, Công Bồi, Bắc Trạch, Trung Đông, Cao Mại, Thanh Châu, Đông Quan, Thạch Bích, Hà Xá, Thanh Minh, Trương Nam, Lương Đông, Lai Tê, Đồng Lệ, Từ Châu… cũng xin gia nhập trại, làm nên một cộng đoàn ngày một đông vui.
Cũng cùng năm đó, cha Giuse Phan Quang Tú được sai đến coi sóc giáo xứ thay cho cha Ân dưỡng bệnh. Cha Tú cùng bà con phân chia đất, dựng nhà, mở xóm, xây dựng khu dân cư mới trật tự, ngăn nắp hơn. Ngày 7.10.1955, giáo xứ chính thức được thành lập, nhận Đức Mẹ Mân Côi làm bổn mạng.
Gặp ông Trần Hùng Dũng - thành viên ban mục vụ - trong một lần ghé khu xóm đạo Thái Bình, nghe ông kể về sinh hoạt của bà con nơi đây, tôi nhận ra nét nổi bật nhất vẫn là tinh thần gìn giữ truyền thống và cách sống đạo sốt mến. Thái Bình hôm nay vẫn vẹn nguyên dấu ấn xứ đạo Bắc di cư, là lòng nhiệt thành trong sinh hoạt đạo đức, sự năng động trong các hoạt động xã hội và tinh thần gắn bó cộng đồng. Các hội đoàn đều hoạt động sôi nổi, thu hút đủ mọi lứa tuổi. Mỗi lần Tết đến, giáo xứ thường tổ chức gói bánh chưng, hồi đầu vốn chỉ chia sẻ cho bà con trong xứ, rồi dần mở rộng tặng cho cả người lương quanh vùng. Bên cạnh đó, theo ông Dũng, những cử hành đạo đức như ngắm nguyện mùa Chay, hát than mồ, tháo đanh…, vẫn được duy trì, tiếp nối qua các thế hệ.
Rời Thái Bình, chúng tôi đi về phía cuối đường Thống Nhất, đoạn gần cầu Bến Phân bắc qua sông Vàm Thuật, là nơi hiện diện của thánh đường giáo xứ Tử Đình. Xứ đạo này được hình thành năm 1955 do linh mục Giuse Ngô Văn Yên và Đức ông Đaminh Đinh Đồng Cương quy tụ những giáo dân gốc từ các làng Tử Đình, Hương Nghĩa, Đình Tổ, Nghĩa Thượng, Vạn Thái, Đông Tâm, Mỹ Tho của giáo phận Bắc Ninh. Cái tên Tử Đình được chọn để gợi nhớ nơi chôn nhau cắt rốn, do phần nhiều giáo dân đến từ làng này.
Ngôi nhà thờ đầu tiên của giáo xứ được dựng nên vào ngày 19.3.1955, mái tôn, vách tôn xi măng đơn sơ, rồi dần được kiên cố hóa qua các giai đoạn: xây tường gạch (1958), xây trường tiểu học (1959), dựng tháp chuông (1969) và đài Đức Mẹ Fatima (1973). Đến năm 1989, cha Tôma Nguyễn Văn Thuyết khởi công xây ngôi thánh đường mới, sau đó các cha kế nhiệm tiếp nối hoàn thiện và khánh thành vào năm 1993.
Từ thập niên 2000, dưới thời cha Vinh Sơn Nguyễn Minh Huấn, nhà thờ được đại tu, cung hiến và thêm nhiều công trình phụ trợ như nhà Chầu Thánh Thể, hội trường, đền thánh Giuse, khu vườn Các Thánh Nam Nữ... Những năm trở lại đây, giáo xứ còn tiếp tục mở rộng, tu bổ các đền đài của từng giáo khu. Hiện nay giáo xứ có khoảng hơn 700 hộ, chia thành ba giáo khu trải dọc hai bên đường Thống Nhất, kéo dài đến bên kia bờ sông Vàm Thuật. Thời gian đầu, đời sống giáo dân còn khó khăn, đặc biệt là khu 3, nơi nhiều hộ mưu sinh bằng nghề chài lưới, sống trong những căn nhà dựng tạm kế bờ sông, đi lại ngăn trở, trẻ con ít điều kiện học hành. Nay đường sá, giao thông thuận tiện, cơ sở hạ tầng quanh vùng phát triển, đời sống giáo dân nhờ vậy cũng dần cải thiện hơn.
Ba ngày lễ quan trọng hằng năm của giáo xứ là bổn mạng thánh Giuse (19.3), ngày Truyền thống giáo xứ (13.10) và Ngày Gia đình đầu năm dương lịch (1.1). Trong đó, ngày Truyền thống có nguồn gốc từ ngày lễ kính Đức Mẹ Fatima từ năm 1950 tại quê nhà. Đến nay, mỗi dịp 13.10 hằng năm, cộng đoàn lại quy tụ bên đài Đức Mẹ Fatima để tạ ơn, cầu nguyện cho giáo xứ và xin ơn bình an. Ngoài ra, ngày Gia đình đầu năm là nét đẹp riêng của xứ Tử Đình. Mỗi năm đến ngày này, cộng đoàn cùng quy tụ dâng thánh lễ tạ ơn, dùng bữa cơm chung toàn xứ, và chia sẻ, vui vầy với nhau dịp đầu năm.
Chia tay Tử Đình, đi lối Phạm Văn Chiêu ngược về hướng đường Lê Đức Thọ, sẽ bắt gặp ngôi thánh đường của giáo xứ Lạng Sơn. Tên gọi Lạng Sơn được chọn để ghi nhớ cội nguồn, khi những năm 1954, linh mục Micae Nguyễn Khắc Ngữ, khi đó là Tổng Đại diện giáo phận Lạng Sơn, đã cùng một số linh mục dẫn khoảng 500 giáo dân di cư vào Nam, lập nên xứ đạo mới và đặt tên như thế để lưu dấu quê hương cũ.
Năm 1955, vì công việc mục vụ chung, cha Ngữ trao lại việc coi sóc cho cha Giuse Vũ Văn Toàn. Một năm sau, khu Xóm Mới gặp trận hỏa hoạn lớn khiến nhiều gia đình tản cư, cha Toàn cùng một số bà con xuống miền Tây lập nghiệp. Cha Ngữ trở lại giáo xứ Lạng Sơn, vừa làm chánh xứ vừa kiêm quản hạt Gò Vấp cho đến khi được Tòa Thánh bổ nhiệm Giám mục tiên khởi giáo phận Long Xuyên năm 1960. Từ đó, giáo xứ lần lượt được phục vụ bởi các cha Gioakim Nguyễn Đình Quyến, Giuse Đoàn Văn Hàm, Phêrô Vũ Văn Mạch, Giuse Nguyễn Văn Trọng... và hiện nay là cha Vinh Sơn Nguyễn Đức Dũng.
Từ con số 500 giáo dân ban đầu, đến nay giáo xứ Lạng Sơn đã có hơn 6.000 tín hữu, quy tụ trong tám giáo họ. Là một cộng đoàn đa sắc màu di dân, Lạng Sơn sớm hình thành nếp sống đạo phong phú và tinh thần bác ái sâu đậm. Hơn hai mươi lăm năm qua, “Cửa hàng Tình thương” - một tiệm tạp hóa nhỏ trong khuôn viên nhà xứ - đã trở thành hình ảnh quen thuộc của lòng nhân ái nơi đây. Cửa hàng chỉ rộng chừng 20 mét vuông, người đến mua tự chọn hàng và tự thanh toán, tất cả dựa trên sự tín nhiệm và tự giác. Những người phục vụ trong tiệm, cũng chính là những anh chị em khuyết tật được giáo xứ tạo điều kiện làm việc, tự nuôi sống bản thân và phục vụ trở lại tha nhân.
Chính tinh thần đó đã khơi nguồn cho một hướng mục vụ đặc trưng nơi đây là chăm sóc người khuyết tật. Tháng 10.1994, theo sáng kiến của các linh mục hạt Xóm Mới và linh hướng là cha Giuse Nguyễn Văn Luyến - chánh xứ Lạng Sơn thời bấy giờ - Hội Người khuyết tật được thành lập, trở thành ngôi nhà chung cho những phận đời kém may mắn. Ban đầu chỉ vài người, rồi dần dần con số tăng lên hàng trăm thành viên khắp quận Gò Vấp. Ở đó, họ tìm thấy niềm vui, nghị lực và cả công việc, xóa đi mặc cảm để hòa nhập cộng đồng.
Cách Lạng Sơn không xa là nhà thờ Lam Sơn, xưa vốn là giáo họ của Lạng Sơn. Tên gọi Lam Sơn cũng bắt nguồn từ tên gốc mà ra. Năm 1957, vì lòng sùng kính thánh Vinh Sơn, giáo xứ này dựng một ngôi đền nhỏ đơn sơ để sớm hôm đọc kinh cầu nguyện. Năm 1968, chiến tranh khiến ngôi đền bị tàn phá, nhưng nhờ sự trợ giúp của Caritas Sài Gòn, bà con đã xây lại một nhà nguyện nhỏ bằng gạch, mái tôn. Dù chỉ là họ lẻ, Lam Sơn sớm được Đức TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình quan tâm, sai các linh mục về dâng lễ và ban bí tích. Ngày 26.1.1976, ngài chính thức nâng Lam Sơn lên hàng giáo xứ, nhận Thánh Vinh Sơn làm bổn mạng và bổ nhiệm cha Phêrô Nguyễn Văn Nhuận làm chánh xứ tiên khởi.
Giáo xứ Lam Sơn hôm nay vẫn giữ cho mình nét đặc trưng giản dị nhưng gắn kết, đúng như tinh thần mà giáo xứ đã đề ra: “Xây dựng cộng đoàn như một gia đình”. Giáo xứ đặc biệt chú trọng đến việc nuôi dưỡng ơn gọi và chăm lo cho giới trẻ. Truyền thống bác ái cũng là nét đẹp bền vững của giáo xứ. Hơn 10 năm qua, chương trình “Thu gom ve chai” được duy trì đều đặn, quyên góp được hàng trăm triệu đồng để phát gạo cho người nghèo và lo bữa sáng cho các em thiếu nhi.
Rời Lam Sơn, chúng tôi ghé thăm giáo xứ Thạch Đà nằm trên con đường Phạm Văn Chiêu, có khu chợ sầm uất phía trước. Theo lược sử giáo xứ ghi chép, năm 1954, linh mục Giuse Nguyễn Hữu Tống, là cha sở giáo xứ Thạch Đà, GP Bắc Ninh cùng bà con giáo dân di cư vào lập nghiệp trên đất Tây Ninh. Đến năm 1954, cha đưa giáo dân về ấp Đồng Tâm 7, xã Thông Tây Hội, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định (khu vực đường Phạm Văn Chiêu ngày nay), cùng với giáo dân của tám giáo họ gồm Thạch Đà, Mai Châu, Bến Cốc, Thường Lệ, Văn Quán, Bến Dừa, Hạ Lôi và Vĩnh Phúc, tiến hành dựng lên “trại Cha Tống”, hay còn gọi là nhà thờ Cha Tống, thống nhất chọn tên Thạch Đà làm tên gọi cho xứ mới.
Giữa hoàn cảnh thiếu thốn, năm 1971, cha xứ và giáo dân cùng khởi công xây dựng thánh đường mới. Sau bốn năm miệt mài, đến năm 1975, ngôi thánh đường khang trang đã hoàn thành trong niềm vui chung của toàn xứ. Về sau, thánh đường được tu sửa nhiều lần, đặc biệt là đợt đại tu năm 1997, và ngày 2.12.2000 được cung hiến, đánh dấu một chặng đường trưởng thành mới.
Những năm sau 1975, vùng Thạch Đà vẫn tiếp tục đón thêm người từ nơi khác đến lập nghiệp. Nếu như các thế hệ đi trước đã góp công dựng xây nên một cộng đoàn vững mạnh, thì tinh thần yêu thương và chia sẻ lại tiếp tục được nối dài qua các hoạt động bác ái. Bắt đầu từ khoảng năm 2005, một hội bác ái mang tên giáo xứ được thành lập, với mục tiêu giúp đỡ những người nghèo khó trong và ngoài xứ. Ban đầu hội chỉ lác đác vài thành viên, mỗi người góp chút tiền, chút gạo. Từ đó, mỗi người chia nhau đi từng khu trong xóm đạo tìm người cần giúp, mang quà đến tận nhà. Với thời gian, tiếng lành lan xa, nhiều giáo dân tự nguyện gia nhập, từ vài chục nay lên tới vài trăm người. Mỗi tháng, các thành viên phát quà, chia gạo cho khoảng 250-300 hộ nghèo, không phân biệt lương giáo.
Mai An Thu
Bình luận