Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật XIV thường niên - năm B

Mc 6,1-6

                Linh mục Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ, phụ trách

1. Đọc Mc 6,1. Quê của Đức Giêsu ở đâu? Đọc Mc 1,9.24; 10,47; 14,67; 16,6. Quê của Đức Giêsu có nổi tiếng không? Có phải là một thành phố lớn không? Đọc Ga 1,46.

2. Đọc Mc 6,2-3. Khi nghe Đức Giêsu giảng trong hội đường ở Nadarét, người dân làng đã đặt bao nhiêu câu hỏi? Các câu hỏi này tập trung vào những vấn đề gì? Họ có thái độ nào trước Đức Giêsu?

3. Đức Giêsu làm nghề gì? Đọc Mc 6,3 và Mt 13,55. Nghề của Đức Giêsu có được coi trọng ở quê Ngài không?

4. Việc thánh Máccô gọi Đức Giêsu là “con bà Maria” có bình thường không? Đọc Mc 10,35.46; Lc 4,22; Ga 1,45; 6,42.

5. Đọc Mc 6,3. Những anh emchị em của Đức Giêsu được nói đến trong câu này có phải là anh chị em ruột của Đức Giêsu không?

6. Hãy tìm những chi tiết trong bài Tin Mừng này cho thấy Đức Giêsu, tuy là Thiên Chúa, nhưng cũng thật sự là người như chúng ta.

7. Đức Giêsu đã không thể làm phép lạ ở Mc 6,5. Trong Tin Mừng Máccô, Đức Giêsu có những giới hạn nào khác không? Đọc Mc 8,23-24; 10,40; 13,32.

8. Đức Giêsu ngạc nhiên vì họ không tin (Mc 6,6). Tin Mừng Máccô có nói nhiều về những tình cảm của Đức Giêsu không? Đọc Mc 1,41; 3,5; 6,34; 10,21; 14,33-34.

GỢI Ý SUY NIỆM

Điểm nào đánh động bạn hơn cả khi suy niệm bài Tin Mừng này?

CN 14.jpg (449 KB)

PHẦN TRẢ LỜI

1. Đức Giêsu sống ở vùng Nadarét (xem Mc 1,9; 14,67). Nadarét không phải là một thành phố, đúng hơn nó là một làng quê, với dân cư khoảng 400 - 500 người. Nadarét không nổi tiếng và chẳng bao giờ được nhắc đến trong Cựu Ước (x. Ga 1,46). Vào thời của Đức Giêsu, cũng có những người mang tên Giêsu, nên để phân biệt, Ngài được gọi là Giêsu Nadarét (giống như chị Maria Mácđala là người ở vùng Mácđala). Giêsu Nadarét là tên được gọi bởi thần ô uế (Mc 1,24), bởi anh mù hành khất (Mc 10,47), và bởi thiên thần ở ngôi mộ chôn táng Đức Giêsu (Mc 16,6). Ngay cả cô đầy tớ của vị thượng tế cũng biết Đức Giêsu là người vùng Nadarét (Mc 14,67).

2. Trong Mc 6,2-3 dân làng đã đặt 5 câu hỏi. Ba câu hỏi đầu tiên ở Mc 6,2 xoay quanh sự khôn ngoan của Đức Giêsu khi giảng dạy và quyền năng làm phép lạ của Ngài. Điều này khiến họ sửng sốt. Hai câu hỏi tiếp theo ở Mc 6,3 lại tập trung vào nghề nghiệp trước đây của Đức Giêsu và vào họ hàng của Ngài hiện đang sống ở Nadarét. Dựa trên Mc 6,2-3 ta thấy: một mặt người ta kính nể khả năng và quyền năng của Đức Giêsu, mặt khác người ta lại có vẻ hơi coi thường nghề nghiệp và họ hàng của Ngài. Bởi thế họ đã vấp ngã vì Ngài, nghĩa là đã không tin Đức Giêsu.

3. Theo Mc 6,3 Đức Giêsu là một người thợ, còn theo Mt 13,55 Ngài là con trai của một người thợ. Chúng ta thường cho rằng Đức Giêsu làm nghề thợ mộc, nối nghiệp thánh Giuse thợ mộc. Thật ra, “thợ” (tektôn) là danh từ chung để chỉ người làm nghề, chẳng những về gỗ, mà còn về kim loại hay đá nữa. Người thợ trong làng quê, tuy không được trọng vọng như một thầy luật sĩ học thức, nhưng cũng được mọi người quý mến vì phục vụ cho ích lợi cụ thể cho dân làng.

4. Lối gọi Đức Giêsu là “con bà Maria” hơi lạ, vì người Do Thái thường gắn kết người con với người cha. Thí dụ: Giacôbê và Gioan là hai con của ông Dêbêđê (Mc 10,35), anh mù Batimê là con của ông Timê (Mc 10,46). Chính Đức Giêsu cũng vẫn được coi là con của ông Giuse (Lc 4,22; Ga 1,45; 6,42). Tuy nhiên, có thể vì thánh Giuse đã qua đời lâu rồi, nên người ta coi Đức Giêsu là con của Mẹ Maria.

5. Máccô 6,3 cho thấy Đức Giêsu là anh em (adelphos) của bốn ông Giacôbê và Giôxếp, Simôn và Giuđa. Và Ngài còn ít nhất hai chị em nữa (adelphai, số nhiều). Nếu hiểu tất cả những anh chị em trên đây là anh chị em ruột của Đức Giêsu thì hẳn Đức Maria ít nhất phải có 7 người con! Có những người khẳng định rằng anh em và chị em ở đây phải hiểu là anh chị em ruột, vì nếu là anh em họ thì thánh Máccô sẽ dùng từ khác chứ không dùng từ adelphos. Họ còn cho rằng dựa trên Mt 1,25 thì sau khi sinh Đức Giêsu, Giuse và Maria có tương quan vợ chồng bình thường. Thật ra, trong Tân Ước, từ anh em (adelphos) không chỉ có nghĩa là anh em ruột. Ý nghĩa của nó rộng hơn nhiều. Những người tín hữu vẫn coi nhau như anh em (Mt 5,22-24; 7,3-5; 23,8). Ai bỏ anh em, chị em (ruột) vì Đức Giêsu thì được gấp trăm anh em, chị em khác, nghĩa là những người có cùng đức tin (Mc 10,29-30). Đức Giêsu gọi các môn đệ là anh em, chị em (Mc 3,34-35). Đặc biệt Đức Giêsu Phục Sinh gọi môn đệ là anh em (Ga 20,17; Mt 28,10). Những người đói khát là những anh em bé mọn nhất của Ngài (Mt 25,40). Trong Cựu Ước, từ anh em (akh) cũng được dùng cho anh em họ (Ds 36,2), cho thành viên của cùng chi tộc (Ds 16,10), cho đồng bào (Xh 2,11; Đnl 15,7), cho người cháu là ông Lót (St 12,5), thậm chí cho cả người lạ (St 29,4). Nói chung, không thể khẳng định rằng Mc 6,3 chỉ có nghĩa là anh chị em ruột. Thánh Giêrônimô coi việc Đức Giêsu trối Mẹ Ngài cho người môn đệ Ngài yêu, là dấu hiệu cho thấy Ngài không có các anh chị em ruột khác để săn sóc Đức Mẹ (Ga 19,27).

6. Qua bài Tin Mừng này, ta thấy Đức Giêsu thật sự là người như chúng ta vì Ngài có một quê quán là Nadarét (Mc 6,1), có mẹ Maria và bà con thân thuộc vẫn còn sống (Mc 6,3), có nghề nghiệp (Mc 6,3). Ngài cũng có một giới hạn: đó là không thể làm được phép lạ lớn nào ở nơi những người làng không có lòng tin (Mc 6,5), và Ngài ngạc nhiên về sự cứng lòng của họ (Mc 6,6).

7. Đức Giêsu còn có những giới hạn khác và Ngài chấp nhận những giới hạn này trong tư cách là Con. Ngài nhìn nhận mình không biết ngày tận thế sẽ xảy ra khi nào, chỉ mình Chúa Cha biết (Mc 13,32). Ngài không có quyền cho hai môn đệ ngồi hai bên tả hữu khi Ngài được vinh quang, vì đó là việc của Cha (Mc 10,40). Đặc biệt, Ngài chữa một người mù hai lần mới khỏi hẳn (Mc 8,23-24). Vì là con người có thân xác nên Đức Giêsu có thể bị dân chúng chen lấn để nghe Ngài rõ hơn (Mc 3,9). Ngài đã phải ngồi trên thuyền để giảng cho dân chúng (Mc 4,1).

8. Đức Giêsu kinh ngạc khi thấy dân làng Nadarét cứng lòng không tin vào Ngài (Mc 6,6). Kinh ngạc ở đây là tình cảm ngỡ ngàng trước một chuyện xảy ra vượt quá điều mình nghĩ. Tin Mừng Máccô cho thấy Đức Giêsu là người có nhiều tình cảm gần với tình cảm loài người. Ngài chạnh lòng thương người phong hay đám đông dân chúng (Mc 1,41; 6,34; 8,4); Ngài giận dữ và buồn bực trước sự chai đá của người Pharisêu (Mc 3,5); Ngài thở dài não nuột (Mc 8,12); Ngài giận dữ vì các môn đệ chậm tin (Mc 8,14-21). Ngài đã mến anh thanh niên giàu có (Mc 10,21); và trong Vườn Dầu, Ngài hãi hùng xao xuyến, buồn đến chết được (Mc 14,33-34).

Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật I Mùa Chay - năm A
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật I Mùa Chay - năm A
Hãy nghĩ đến một hay nhiều cơn cám dỗ mà bạn quen gặp trong cuộc sống? Có khi nào bạn chiến thắng không?
Đáp ca - Chúa nhật I Mùa Chay - năm A
Đáp ca - Chúa nhật I Mùa Chay - năm A
Xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.
Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan
Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan
Mùa Chay được khởi đầu bằng nghi thức xức tro trên đầu, để nhắc nhở về thân phận cát bụi của con người.
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật I Mùa Chay - năm A
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật I Mùa Chay - năm A
Hãy nghĩ đến một hay nhiều cơn cám dỗ mà bạn quen gặp trong cuộc sống? Có khi nào bạn chiến thắng không?
Đáp ca - Chúa nhật I Mùa Chay - năm A
Đáp ca - Chúa nhật I Mùa Chay - năm A
Xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.
Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan
Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan
Mùa Chay được khởi đầu bằng nghi thức xức tro trên đầu, để nhắc nhở về thân phận cát bụi của con người.
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật VI thường niên -  năm A
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật VI thường niên - năm A
Đức Giêsu đã đưa các môn đệ đi vào chiều sâu của lòng mình, của trái tim bên trong chi phối mọi hành động. Những giáo huấn của Ngài có tính nội tâm hơn và tận căn hơn, nên cũng khó giữ hơn.
Từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa
Từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa
Thánh lễ mùng Ba Tết được dâng để xin ơn thánh hóa công việc làm ăn trong năm mới. Vậy là, những công việc bình thường của cuộc nhân sinh cũng có thể trở thành phương thế cho Kitô hữu nên thánh.
Gìn giữ truyền thống tốt đẹp  của dân tộc
Gìn giữ truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Tết Nguyên đán là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam. Ngày Tết thôi thúc những thành viên gia đình dù làm ăn sinh sống ở nơi xa, cũng vội vã quay về dưới mái ấm gia đình vui cảnh đoàn viên, hưởng chút hơi...
Xin được như ý Chúa
Xin được như ý Chúa
Có lẽ Tết là thời gian thảnh thơi nhất trong năm. Những công việc vất vả của năm cũ rồi cũng đã qua, những nỗi vướng bận tạm gác lại một bên, còn việc của năm mới thì chưa thể bắt đầu. Những ngày Tết là thời gian thanh thản...
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật V thường niên -  năm A
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật V thường niên - năm A
Thế gian có thể làm người môn đệ của Chúa Giêsu trở nên “nhạt” không? Một người bị “nhạt” có thể “mặn” lại được không?
Thương người như thể thương thân
Thương người như thể thương thân
Khi Tin Mừng được loan báo trên quê hương chúng ta, truyền thống Việt Nam “thương người như thể thương thân” đã gặp gỡ giáo huấn của Tin Mừng “yêu người như mình ta vậy”.