HỌC HỎI PHÚC ÂM LỄ CHÚA GIÊSU KITÔ VUA

Mt 25,31-46

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ, phụ trách

1. Tìm những điểm giống nhau giữa Mt 25,31-33 với Mt 16,27; 19,28; 24,30. Con Người đến trong vinh quang khi nào và để làm gì?

2. Đọc Mt 25,32-33. “Các dân thiên hạ” là ai? Xem Mt 24,14; 28,19. Chiên và dê tượng trưng cho ai? Đứng bên phải và đứng bên trái có khác nhau không? Đọc 1 Vua 2,19; Thánh vịnh 110,1.

3. Đọc Mt 25,34. “Đức Vua” ở đây là ai? Đức Vua đến làm nhiệm vụ gì?

4. So sánh hai câu nói của Đức Vua ở Mt 25,34 và 25,41. Tìm những điểm ngược nhau.

5. Đọc Mt 25,35-36. Đức Vua bảo mình đã ở trong 6 hoàn cảnh khốn khó nào?

6. Đọc Mt 25,37-39. Tại sao “những người công chính” lại ngạc nhiên khi Đức Vua nói?

7. Đọc Mt 25,40.45. Tại sao hai câu này là những câu rất quan trọng cho đời sống Kitô hữu?

8. “Người anh em bé nhỏ nhất này của Ta” là ai? Xem Mt 12,48-49; 28,10; 18,6.10.14; 10,42; Ga 20,17.


GỢI Ý SUY NIỆM

Khi đọc bài Tin Mừng hôm nay, điều gì có thể làm bạn rất ngạc nhiên? Tại sao bài Tin Mừng này được Giáo hội chọn đọc trong lễ Chúa Kitô Vua? Một người tuy không biết Chúa, nhưng giúp đỡ các môn đệ của Chúa, thì có thể được cứu rỗi không?



PHẦN TRẢ LỜI

1. Qua Mátthêu 25,31-33, Đức Giêsu cho thấy một điều mà chúng ta phải tin, nằm trong kinh Tin kính. Đó là việc Ngài sẽ “đến trong vinh quang” để phán xét cả nhân loại vào ngày tận thế. Đức Giêsu đã đến lần đầu như một em thơ yếu đuối. Ngài sẽ đến lần cuối như một vị Thẩm phán đầy quyền năng để xét xử kẻ sống và kẻ chết. Tin Mừng Mátthêu nhiều lần nói đến biến cố cuối cùng và quan trọng này (Mt 16,27; 19,28; 24,30; 25,31-33), biến cố mà chúng ta tin chắc sẽ xảy ra trong tương lai. Trong các câu trích dẫn trên đây, Đức Giêsu luôn nhận mình là “Con Người” sẽ đến “trong vinh quang”, có các “thiên sứ” theo hầu (Mt 16,27; 24,31; 25,31). Ngài đến để thưởng phạt (Mt 16,27), để xét xử các chi tộc Ítraen (Mt 19,28), để “tập hợp những kẻ được tuyển chọn” (Mt 24,31).

2. Lối nói “các dân thiên hạ” ở Mt 25,32, nguyên văn là “mọi dân tộc” (panta ta ethnê). “Các dân tộc” (ta ethnê) là từ thường được Mátthêu dùng để chỉ dân ngoại (Mt 4,15; 5,47; 20,25; 24,9…). Tuy nhiên, trong một số trường hợp, từ này cũng bao gồm cả người Do Thái nữa (Mt 24,14; 28,19). Ở Mt 25,32, “các dân thiên hạ” để chỉ mọi dân tộc trên trần gian. Trong dụ ngôn này, Đức Giêsu “tách biệt chiên với dê”. Chiên tượng trưng cho người tốt, dê tượng trưng cho người xấu. Thật ra, người Do Thái thường nuôi chiên chung với dê, chỉ tách chúng vào ban đêm hay khi lấy sữa. Dê cần chỗ ngủ ấm hơn, còn chiên thích ngủ ngoài trời. Ở chỗ khác, Ngài phân biệt lúa với cỏ lùng, cá tốt với cá xấu (Mt 13,24-30.47-50). Đối với người Do Thái, bên phải luôn được coi là chỗ danh dự (1 Vua 2,19; Tv 110,1). Ở đây bên phải là chỗ những người được thưởng, bên trái là chỗ những người bị phạt.

3. Trong Mt 25,34 hình ảnh “Đức Vua” xuất hiện thay cho nhìn ảnh “Con Người” ở Mt 25,31. Trong Tin Mừng Mátthêu, Đức Giêsu là Đấng Mêsia mà người Do Thái mong đợi. Đấng Mêsia này là một vị Vua, con của Vua Đavít (Mt 2,2; x. Lc 1,32-33). Cũng như “Con Người”, “Đức Vua” chính là Đức Giêsu sẽ đến lần thứ hai vào ngày quang lâm, để phán xét mọi dân tộc trên mặt đất. Ngài đã loan báo về Nước Trời lúc ban đầu (Mt 3,2), bây giờ Ngài đến để ban Vương Quốc ấy (Mt 25,34).

4. Trong câu Đức Vua nói với những người đứng bên phải hay bên trái, có những điểm tương phản Những người đứng bên phải được gọi là “những kẻ được Cha Ta chúc phúc”; họ được mời “đến để thừa hưởng Vương Quốc đã được chuẩn bị cho họ từ thuở tạo thiên lập địa” (Mt 25,34). Còn những người bên trái là “những kẻ bị nguyền rủa” nghĩa là bị Thiên Chúa nguyền rủa; họ bị “đi cho khuất mắt Ta, mà vào lửa đời đời đã được chuẩn bị cho tên Quỷ Dữ và các thần sứ của nó” (Mt 25,41).

5. Qua câu Mt 25,35-36, Đức Vua đã cho biết Ngài đã trải qua sáu hoàn cảnh khốn khó như sau: đói, khát, là khách lạ (Rm 12,13), trần truồng (Đnl 15,11), đau yếu, bị ở tù (Cl 4,18). Hai câu này hẳn làm mọi người ngạc nhiên, vì chuyện Vua mà phải trải qua những cảnh ngộ như thế là không thể tin được. Hơn nữa, Đức Vua còn cho biết Ngài đã được những người đứng bên phải giúp đỡ khi Ngài sống trong sáu hoàn cảnh bi đát đó. Sáu hoàn cảnh trên đây tượng trưng cho thảm kịch của nhân loại thuộc mọi thời đại. Thời nào cũng có những người đói khát, đau yếu, di dân, vô gia cư, tội phạm. Đến với họ là đến với Chúa Giêsu. Có thể nói họ là một á bí tích.

6. Những người công chính nghe những lời của Đức Vua với sự ngạc nhiên sững sờ (Mt 25,37-39). Lập tức họ đặt câu hỏi cho Đức Vua, vì họ không rõ “khi nào” họ đã làm những điều đó cho Ngài. Họ không hề nhớ có lần nào Đức Vua đã gặp cơn quẫn bách và họ đã ra tay trợ giúp. Chúng ta vẫn không tin

7. Câu Mt 25,40 là câu quan trọng cho đời sống kitô hữu. Đức Giêsu bắt đầu câu này một cách long trọng: “Ta bảo thật các ngươi…”. Ngài khẳng định: “Khi các ngươi làm những điều ấy cho một trong những người anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các người làm cho chính Ta”. Như thế Đức Giêsu đã đồng hóa mình với “những người anh em bé mọn nhất” của Ngài. Ai làm cho họ là làm cho Ngài. Đức Vua Giêsu thì không ai gặp, nhưng anh em khốn khổ của Ngài thì chúng ta gặp hoài trong cuộc sống. Ơn cứu độ chúng ta dựa vào thái độ của chúng ta đối với những anh chị em này. Chúng ta sẽ được vào hưởng Nước Trời hay bị trầm luân trong lửa đời đời tùy theo cách cư xử của chúng ta đối với họ. Câu Mt 25,45 đưa ra một khẳng định tương phản: “Mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất này, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy?” Như thế, theo dụ ngôn này, người ta có thể mất ơn cứu độ chỉ vì không biết giúp đỡ những ai hoạn nạn. Phải cho người thiếu thốn đúng điều họ đang cần.

8. Có nhiều cách hiểu về lối nói: “Người anh em bé mọn nhất này của Ta”. Đức Giêsu coi những người thi hành ý muốn của Cha là anh chị em của Ngài (Mt 12,48-49). Ngài cũng coi các môn đệ là anh em (Ga 15,15; 20,17). Những người bé mọn (mikros) là những người đang tin vào Ngài (Mt 18,6.10.14), là môn đệ của Ngài (Mt 10,42). Dựa trên những trích dẫn trên đây, ta thấy lối nói “một trong những anh em bé mọn nhất (elakhístoi) này của Ta” (Mt 25,40) để chỉ một Kitô hữu, một người không có vai vế trong xã hội hay Giáo hội, một người môn đệ được Đức Giêsu sai đến trong thế gian. Tuy nhiên, lối nói này cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng để chỉ mọi người nghèo khổ, bất kể họ là ai. Thái độ bác ái, phục vụ đối với “những anh em bé mọn nhất của Đức Vua” sẽ ảnh hưởng trên phần rỗi đời đời của từng người, vì giúp họ là giúp chính Chúa Giêsu.

Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật I Mùa Chay - năm A
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật I Mùa Chay - năm A
Hãy nghĩ đến một hay nhiều cơn cám dỗ mà bạn quen gặp trong cuộc sống? Có khi nào bạn chiến thắng không?
Đáp ca - Chúa nhật I Mùa Chay - năm A
Đáp ca - Chúa nhật I Mùa Chay - năm A
Xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.
Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan
Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan
Mùa Chay được khởi đầu bằng nghi thức xức tro trên đầu, để nhắc nhở về thân phận cát bụi của con người.
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật I Mùa Chay - năm A
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật I Mùa Chay - năm A
Hãy nghĩ đến một hay nhiều cơn cám dỗ mà bạn quen gặp trong cuộc sống? Có khi nào bạn chiến thắng không?
Đáp ca - Chúa nhật I Mùa Chay - năm A
Đáp ca - Chúa nhật I Mùa Chay - năm A
Xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.
Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan
Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan
Mùa Chay được khởi đầu bằng nghi thức xức tro trên đầu, để nhắc nhở về thân phận cát bụi của con người.
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật VI thường niên -  năm A
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật VI thường niên - năm A
Đức Giêsu đã đưa các môn đệ đi vào chiều sâu của lòng mình, của trái tim bên trong chi phối mọi hành động. Những giáo huấn của Ngài có tính nội tâm hơn và tận căn hơn, nên cũng khó giữ hơn.
Từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa
Từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa
Thánh lễ mùng Ba Tết được dâng để xin ơn thánh hóa công việc làm ăn trong năm mới. Vậy là, những công việc bình thường của cuộc nhân sinh cũng có thể trở thành phương thế cho Kitô hữu nên thánh.
Gìn giữ truyền thống tốt đẹp  của dân tộc
Gìn giữ truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Tết Nguyên đán là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam. Ngày Tết thôi thúc những thành viên gia đình dù làm ăn sinh sống ở nơi xa, cũng vội vã quay về dưới mái ấm gia đình vui cảnh đoàn viên, hưởng chút hơi...
Xin được như ý Chúa
Xin được như ý Chúa
Có lẽ Tết là thời gian thảnh thơi nhất trong năm. Những công việc vất vả của năm cũ rồi cũng đã qua, những nỗi vướng bận tạm gác lại một bên, còn việc của năm mới thì chưa thể bắt đầu. Những ngày Tết là thời gian thanh thản...
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật V thường niên -  năm A
Học hỏi Phúc Âm Chúa nhật V thường niên - năm A
Thế gian có thể làm người môn đệ của Chúa Giêsu trở nên “nhạt” không? Một người bị “nhạt” có thể “mặn” lại được không?
Thương người như thể thương thân
Thương người như thể thương thân
Khi Tin Mừng được loan báo trên quê hương chúng ta, truyền thống Việt Nam “thương người như thể thương thân” đã gặp gỡ giáo huấn của Tin Mừng “yêu người như mình ta vậy”.