Biển trời thì hoang vu

1.

Hành lang bệnh viện, buổi trưa nắng. Một bà già gầy yếu tay xách bị bóng đen, dáng đi xiêu vẹo ngẩng đầu đưa mắt lần dò bảng số phòng. Giờ này các phòng chuyên khoa đã đóng kín cửa, ca bệnh sáng phải chuyển sang chiều. Bà rụt rè hỏi người ngồi ngủ gật ở dãy ghế: “Chú ơi, phòng chụp điện tâm đồ ở đây phải không?”. “Dạ đúng rồi”, người đàn ông trung niên nói với cái ngáp dài. “Chú cho tui hỏi chụp cái tâm đồ gì đó thì có được ăn không?”, bà lại đeo đẳng hỏi. “Dạ được. Chỉ thử máu và nội soi mới phải nhịn đói. Mà cô thử máu chưa?”. “Tui chỉ mới xét nghiệm máu thôi, chưa thử máu”, bà già nói với vẻ mặt khắc khổ thật thà. “Thì thử máu là xét nghiệm máu đó cô ơi. Nếu xét nghiệm rồi thì cô cứ ăn thoải mái đi, chờ lát có bác sĩ tới thì vô khám. Con cũng bị mắc kẹt giờ trưa phải chuyển lịch khám sang chiều đây!”, người đàn ông trung niên nói.

Và câu chuyện của hai người không quen bắt đầu khi bà già mở cái bịch nilon đen lấy ra cái bánh bao vừa cố nhai vừa trò chuyện.

“Thằng con trai đầu của tui cũng cỡ tuổi chú”, bà bắt đầu như vậy.

Bà kể, buổi sáng, đứa con trai chở bà thả ở cổng bệnh viện rồi tranh thủ vào công ty họp. Vợ chồng anh tất bật. Việc ngập đầu. Việc ngày việc đêm. Anh hối thúc má lên bệnh viện ở Sài Gòn khám tổng quát định kỳ sau hai năm dịch bệnh gián đoạn, nhưng lại không sao thu xếp để đưa bà vào phòng khám. Sau mấy đợt dịch, cuộc sống dần trả về nhịp điệu vội vàng. Như thể cái lò xo bị nén chặt, đến lúc bật bung thì lực càng mạnh hơn. Tiết tấu sống gấp gáp hơn trước, bon chen hơn trước, lao đao hơn trước. Điều này khác với suy nghĩ của nhiều kẻ đầu đầy sách vở đã đoán mò rằng đại dịch sẽ khiến con người định hình lại cuộc sống, mọi thứ sẽ chậm rãi và cân bằng lại.

Người đàn ông trung niên ngồi cạnh bà nói, má con cũng cỡ tuổi cô. “Vậy bả còn khỏe không?”, bà cụ hỏi. Lặng đi một lúc, anh nhìn ra tán lá lay lay trước mặt: “Má con mất trong dịch bệnh rồi cô ơi. Đi vội đi vàng”.

Bà già lúng túng một lúc, rồi quờ quờ tay người đàn ông đau khổ vì được khơi lại ký ức mất mát: “Thôi cũng là cái số chú ơi. Như tui giờ có cái tủi của tui, sáng giờ tui cứ nghĩ chết như bà già chú có khi lại sướng. Tui chân yếu, mắt mờ, một mình đi ngược đi xuôi ở trong cái bệnh viện này, hứng chịu đủ thứ la mắng bực mình của người khác. Tui hết muốn khám bệnh, bỏ về cho xong mà nghĩ lại phải khám cho tụi nó yên tâm, lại cố gắng. Nhìn cái cảnh con cái tị nạnh nhau chuyện đưa cha mẹ già đi khám bệnh mà tui cứ nghĩ sao Chúa không cất mình đi trong dịch bệnh như mấy ông bà chòm xóm. Chớp mắt cái là vào hũ tro nằm, nói ác chứ vậy cũng sướng đó chú ơi”.

Bà già nói và cúi mặt vê vạt áo bà ba lau nước mắt.

Gã trung niên đặt tay lên vai bà: “Con thì chỉ ước còn mẹ để bên mẹ những lúc thế này, nhưng...”

Rồi bàn tay người mẹ cô đơn và bàn tay người con mồ côi nắm lấy nhau theo cách những người một giờ trước hãy còn xa lạ đã tìm thấy ở nhau một chút an ủi cho qua thời khắc hoang vu của phận người.

2.

Bà mẹ nằm đó, bất động. Không một cử động nào mảy may cho thấy bà còn sống trên đời, trừ hơi thở nhẹ hẫng, phải cúi thật sát khuôn mặt tái bợt của bà thì mới cảm nhận được và ánh mắt mờ đục, khóe mắt lúc nào cũng có một giọt nước muốn tuôn ra mà không đủ sức để tuôn.

Bà nằm đó nhiều năm rồi. Cũng đã nhiều năm, bà phải nghe những núm ruột của mình đi lại chuyện trò chung quanh. Chúng bàn cãi, họp hành, tranh luận, tị nạnh và nặng nề với nhau. Mọi thứ chung quy cũng từ việc chia công chăm bà. Bà nằm đó, bao nhiêu khổ hình xương thịt và tinh thần tưởng chừng dồn tụ lại trong cái thân xác nặng nề, trong thần sắc bị rút kiệt, phai tàn và mục ruỗng. Trong tình cảnh của bà, ai cũng mong sẽ được Chúa cất đi. Nhưng bằng một tính toán nào đó, Chúa đã muốn con người khổ đau kia phải nằm đó để nghe từng mũi kim bắn xuyên qua mỗi tế bào còn có thể giao cảm yếu ớt với đời sống. Những mũi kim của lời nói, của tính toán, của chia rẽ, thậm chí cả của vội vàng tranh chấp... mà các con bà đang điên cuồng bắn tỉa vào nhau. Thật ra là chúng đều có chung một điểm đến: trái tim người mẹ.

Nhưng giọt nước mắt vẫn không còn đủ sức để lăn xuống hay nhòe đi trong đáy mắt người mẹ. Giọt nước mắt khắc khoải neo lại ở đó, trong đáy mắt, hiện thân của nỗi thống khổ lửng lơ chẳng chịu rụng rơi hay biến tan. Nỗi đau thì neo cho đến phút tàn hơi của một kiếp người.

Bên xóm, có tiếng trẻ con khóc ngằn ngặt. Và tiếng người mẹ ru hời hởi ru:

“Ầu ơ, cha mẹ nuôi con biển trời lai láng...”

Chúa vẫn chưa mang bà đi.

Người tính toán gì không ai có thể biết.

Người mẹthì vẫn cô độc giữa thế giới vần xoay tít mù và vô tình của những núm ruột mà chính mình đã nâng niu đặt để vào đời.

3.

Đều đặn mỗi hai tuần một lần, anh lái xe vượt bốn trăm cây số để về ăn một bữa cơm với ba mẹ ở quê nhà. Thành thói quen, ông bà cũng lóng ngóng chờ đợi những ngày cuối tuần để được thấy bóng dáng thằng con phiêu bạt nửa đời cất tiếng chào từ bờ rào hiên trước. Lóng ngóng như những buổi trưa hè năm xưa, khi thằng con đi chơi xa kêu hoài chẳng thấy về đúng bữa cơm. Ngày xưa thì ăn roi, bây giờ mà trễ giờ cơm thì ông bà cũng cho ăn roi như thường.

Thằng con đầu tóc muối tiêu nói với bạn nhậu về phép tính của y, rằng giả như ông bà già sống đến được bảy mươi tuổi thì đây tới đó có thể còn bao nhiêu chuyến về thăm. Nói vậy để bạn nhậu thông cảm cho chuyện y biến mất khỏi thành phố vào dịp cuối tuần, khi anh em tứ chiếng thường hú nhau làm vài ve.

Có thằng trong đám bạn nhậu của y cũng học đòi làm theo, chỉ mới được hai tuần thì bà vợ ghen bóng ghen gió nên đường về nhà với ba má trở nên xa xôi vạn dặm. Có thằng thì bảo rằng, ở tuổi này thua rồi, về nhà ba má lo ăn lo uống thêm phiền ra, nên đừng có mà sến sẩm đặt câu hỏi “Ta còn về thăm ba mẹ ta được bao nhiêu lần trong đời?”.

Nhưng với nhân vật chính trong đoạn này thì khác. Việc hai tuần một lần có mặt ở trong khu vườn, pha ly cà phê ngồi bên cạnh cha nghe kể về ngày xưa lẫn lộn chuyện nọ qua chuyện kia, được ăn tô canh cá lá me mẹ nấu đã là một diễm phúc hiếm có. Chỉ điều đó thôi đủ để anh một mình vượt chặng đường 400 cây số, bỏ lại thành phố rộn ràng níu kéo phía sau lưng.

“Mày nghĩ coi, dịch bệnh xong mà cái bếp bà già còn đỏ lửa, cái bàn cà phê của ông già còn thơm mỗi sáng thì ông bà có kêu tao nằm sấp đánh đòn, tao cũng cứ mò về!”.

Người đàn ông đầu hai thứ tóc nói, như một đứa trẻ lì lợm ngày xưa.

Tùy bút của NGUYỄN VĨNH NGUYÊN

[Trích từ bản thảo Ngang qua Vườn Cây Dầu]

Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Hơn năm mươi năm trước, có một chú bé thường sang xưởng vẽ gần nhà, say sưa ngắm nhìn các tranh vẽ về nhà thờ, về Chúa Giêsu… Nét vẽ đã tạo nên dấu ấn thánh thiện ngay từ năm tháng đó, thật bất ngờ, chú bé ấy về sau...
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
“Thời gian không phải là vàng. Thời gian quý hơn vàng, vì thời gian không bao giờ trở lại. Chính xác như Gimiko” là câu quảng cáo kèm tiếng ngựa hí vang từng xuất hiện với tần suất dày trên các kênh truyền hình vào những khung giờ vàng, đã...
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Ở Sài Gòn, không khó để bắt gặp những lớp học cưỡi ngựa hay các trang trại có dịch vụ chụp ảnh cùng ngựa.
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Hơn năm mươi năm trước, có một chú bé thường sang xưởng vẽ gần nhà, say sưa ngắm nhìn các tranh vẽ về nhà thờ, về Chúa Giêsu… Nét vẽ đã tạo nên dấu ấn thánh thiện ngay từ năm tháng đó, thật bất ngờ, chú bé ấy về sau...
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
“Thời gian không phải là vàng. Thời gian quý hơn vàng, vì thời gian không bao giờ trở lại. Chính xác như Gimiko” là câu quảng cáo kèm tiếng ngựa hí vang từng xuất hiện với tần suất dày trên các kênh truyền hình vào những khung giờ vàng, đã...
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Ở Sài Gòn, không khó để bắt gặp những lớp học cưỡi ngựa hay các trang trại có dịch vụ chụp ảnh cùng ngựa.
Đua ngựa ở Sài Gòn qua những dòng ký ức
Đua ngựa ở Sài Gòn qua những dòng ký ức
Môn đua ngựa chuyên nghiệp đã qua thời vàng son từ lâu. Ngựa đua đã tháo vó, nài ngựa đã thu roi, nhưng mỗi khi đi ngang khu vực trường đua Phú Thọ xưa, người hoài cổ vẫn thấy chút nao nao.
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Ở Trung Hoa, kỳ thư Liêu Trai Chí Dị 聊齋誌異 được Bồ Tùng Linh 蒲松齡 (1640-1715) sáng tác trong khoảng hơn bốn mươi năm, từ cuối đời Minh (1368-1644) sang đầu đời Thanh (1644-1912).
Rượu Việt trong cảm thức người phương Tây xưa
Rượu Việt trong cảm thức người phương Tây xưa
Nền văn hóa ẩm thực của dân Việt, tự cổ chí kim, dù có những thay đổi, nhưng tìm hiểu căn cốt, vẫn có những mẫu số chung bất biến. Hãy nhìn xem, trong mâm cơm người Việt, bát nước mắm nào có thể thiếu, và công thức cơm -...
“Chợ Tết Bắc”  giữa lòng đô thị phương Nam
“Chợ Tết Bắc” giữa lòng đô thị phương Nam
Sài Gòn có những góc phố, phiên chợ đượm hương Tết của vùng Bắc Bộ xưa. Vùng Ông Tạ cùng sắc xanh lá dong, xôi đỗ, chè Thái Nguyên; chợ Xóm Mới với mùi thơm nồng nàn của giò chả, măng miến... Những phiên chợ đậm nét văn hóa như...
Dải hoa vàng nối hai miền quê
Dải hoa vàng nối hai miền quê
Tôi trung niên và rồi đến lúc cũng phải già đi. Có thể cảm xúc rộn ràng với Tết nhất sẽ dần lùi sâu vào bên trong. Nhưng trong đất trời hoa vàng vẫn hẹn về lộng lẫy.
Nghề chùi lư và sự kết nối tổ tiên
Nghề chùi lư và sự kết nối tổ tiên
Khi tháng Chạp về, kéo theo những tất bật quen thuộc của chuỗi ngày cuối năm Âm lịch. Đường sá bắt đầu thay áo bởi sắc vàng của cúc, của mai, điểm thêm chút đỏ của dây pháo, của những tấm liễn treo kín trước cửa tiệm.