Đọc lại truyện con ngựa trong tranh

Ở Trung Hoa, kỳ thư Liêu Trai Chí Dị 聊齋誌異 được Bồ Tùng Linh 蒲松齡 (1640-1715) sáng tác trong khoảng hơn bốn mươi năm, từ cuối đời Minh (1368-1644) sang đầu đời Thanh (1644-1912). Trong số khoảng năm trăm truyện lý thú của họ Bồ, có truyện “Họa Mã” 畫馬 như sau:

Ở đất Lâm Thanh 臨清 (dường như thuộc tỉnh Sơn Đông 山東 sau này) có chàng họ Thôi , nhà nghèo đến nỗi tường rào quanh sân sụp đổ từ lâu mà chả có tiền sửa sang. Một sáng nọ ra sân, chàng ngạc nhiên khi bắt gặp nằm trong đám cỏ đẫm sương là một con ngựa lông đen, đốm trắng (hắc chất bạch chương 黑質白章), với đuôi ngắn và xơ xác, như thể đã bị bén lửa mà cháy nham nhở. Mấy phen chàng cố đuổi đi, nhưng hễ xẩm tối nó lại quay về chỗ cũ nằm, mà chẳng biết từ đâu đến.

ConNguaTrongTranh.jpg (591 KB)

Vốn có một người bạn thân làm quan ở đất Tấn (sau này là tỉnh Sơn Tây 山西), từ lâu chàng Thôi vẫn muốn đi thăm, nhưng khổ nỗi đường xa cách trở, sức chàng không cuốc bộ nổi. Nay bỗng dưng có con ngựa, chàng bèn bắt con ngựa ấy, đóng yên cương rồi cỡi đi (Bồ Tùng Linh không thèm nói rõ là chàng Thôi vốn biết cỡi ngựa, dù nhà không có ngựa, và yên cương ấy mượn của ai).

Trước lúc lên đường, chàng dặn dò người nhà: “Nếu có ai đến tìm ngựa, thì bảo hãy sang đất Tấn tìm ta”.

Ra tới đường cái, ngựa phóng như bay, chẳng mấy chốc đã đi được trăm dặm. Tối đến, ở nhà trọ, nó chẳng buồn gặm cỏ hay nhai đậu. Chàng Thôi ngờ rằng nó vừa nhiễm bịnh. Vì thế, hôm sau chàng ghìm chặt dây cương, không cho ngựa phóng nhanh, nhưng nó cứ dậm chân, hí vang, miệng mồm sùi bọt, điệu bộ mạnh mẽ khỏe khoắn y như hôm qua. Chàng đành chiều ý, cho nó mặc sức chạy; đến trưa thì tới đất Tấn.

Chàng Thôi cỡi ngựa vào phố chợ, ai nhìn thấy cũng trầm trồ khen ngựa tốt. Tấn Vương 晉王 nghe tin đồn, bèn sai người đến nài mua lại với giá cao. E sợ sau này chủ cũ tới đòi ngựa nên chàng Thôi chả dám bán. Tá túc ở đất Tấn khoảng nửa năm mà vẫn không thấy ma nào tới tìm ngựa, chàng mới chịu bán cho Tấn Vương với giá tám trăm đồng tiền vàng, rồi mua một con lừa khỏe mà cỡi về nhà.

Thời gian sau, vì có việc cấp bách ở Lâm Thanh, Tấn Vương sai một viên quan võ, chức hiệu úy 校尉, cỡi đúng con ngựa ấy mà lên đường. Tới Lâm Thanh, ngựa bỗng giật dây cương chạy mất. Hiệu úy cố đuổi theo tới nhà người hàng xóm phía đông của chàng Thôi, chỉ kịp thấy ngựa phóng qua cổng rồi mất dạng. Hiệu úy liền đòi chủ nhà ấy phải giao trả ngựa. Nhưng chủ nhà họ Tăng thành thật khai báo rằng chẳng hề thấy bóng dáng con ngựa nào cả.

Đến lúc bước vào trong, hiệu úy thấy trên vách treo một bức tranh ngựa của Tử Ngang 子昂. Màu lông con ngựa trong tranh giống y hệt con ngựa bị sổng mất, chỗ đuôi trong tranh lộ rõ dấu vết bị bén lửa do ngọn nhang hay đèn làm cháy. Té ra con ngựa trong tranh là yêu quái.

Hiệu úy không biết sẽ ăn nói thế nào với Tấn Vương, bèn kiện chủ nhà họ Tăng. Bấy giờ chàng Thôi đã dùng tiền bán ngựa mà làm ăn phát đạt, tích chứa của cải được rất nhiều (cư tích doanh vạn 居積盈萬). Chàng tự nguyện đem tiền tới giúp chủ nhà họ Tăng bồi thường, để hiệu úy mang về. Nhà họ Tăng vô cùng cảm kích, nào mảy may biết rằng chàng Thôi chính là người năm xưa đã bán ngựa cho Tấn Vương.

 LỜI BÀN CỦA HUỆ KHẢI

1. Liêu Trai Chí Dị nghĩa là “Các Chuyện Kỳ Quái Ghi Chép Tại Thư Phòng”, vì thế, bộ truyện này được Herbert Allen Giles (1845-1935) dịch sát nghĩa ra tiếng Anh là Strange Stories from a Chinese Studio (kèm chú thích, gồm hai quyển, đều in lại London năm 1880).

Không chỉ làm việc cho cơ quan lãnh sự Anh tại Trung Hoa trong khoảng hai mươi lăm năm (1867-1892), Giles còn là nhà Hán học, dạy chữ Hán tại Đại học Cambridge trong ba mươi lăm năm (1897-1932). Giles là người cải biên hệ thống phiên âm Quan Thoại do Sir Thomas Wade xây dựng, sau đó cho ra đời hệ thống phiên âm Wade-Giles (công bố lần đầu vào năm 1892). Ví dụ: Bắc Kinh 北京, Cam Túc 甘肅 viết theo Wade-Giles là Pei-ching, Kan-su.

Trong quyển II (tr. 286-288), truyện số 138, Giles dịch và chú “Họa Mã” “The Picture Horse” (Con Ngựa Trong Tranh).

Về cái đuôi ngựa ngắn, xơ xác, tại chú thích 627 (tr. 286), Giles cho biết người Hoa thời xưa thường không cắt đuôi ngựa hay lừa (the Chinese never cut the tails of their horses or mules); thế nên đuôi ngựa ngắn là đặc điểm dễ khiến chàng Thôi chú ý.

Về giá bán ngựa, Bồ Tùng Linh viết là “bát bách kim hóa 八百金貨”. Chữ “kim” của người Hoa không nhất thiết là “vàng”, mà còn có nghĩa là kim loại nói chung. Họ gọi “ngũ kim” 五金 là năm thứ: vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc. Khi muốn nói rõ là “vàng”, họ gọi là “hoàng kim” 黃金. Nếu hiểu “bát bách kim hóa” “tám trăm lượng vàng” như một vài bản dịch ở Việt Nam thì không hợp lý, vì đây là cái giá trên trời!

Thật ra, “kim hóa” 金貨 là đồng tiền đúc bằng vàng (gold coin); do đó, bản tiếng Việt trên đây nói là “tám trăm đồng tiền vàng”. Còn Giles (tr. 287) dịch thoát ý là “eight hundred ounces of silver” (tám trăm ounces bạc); ta biết rằng một ounce tương đương 28,3495 gam.

2. Bồ Tùng Linh viết rằng viên hiệu úy “thấy trên vách treo một bức tranh ngựa của Tử Ngang” (kiến bích gian quải Tử Ngang họa mã nhất tranh 見壁間掛子昂畫馬一幀). Một vài bản dịch ở Việt Nam nhầm lẫn họa sĩ “Tử Ngang” với Trần Tử Ngang 陳子昂 (661-702) là nhà thơ nổi tiếng làm quan thời Sơ Đường. Nhưng tại chú thích 629 (tr. 287), Giles cho biết “Tử Ngang” (Tzŭ-ang) là “a Chinese Landseer” (một Landseer của Trung Hoa). Tức là ông dịch thoát ý cho người Anh dễ hiểu, vì Sir Edwin Landseer (1802-1873) là một họa sĩ kiêm điêu khắc gia người Anh cực kỳ nổi tiếng.

Thật ra, “Tử Ngang” là tên tự của Triệu Mạnh Phủ 趙孟頫 (1254-1322), một họa sư, thư pháp gia, văn gia, chánh khách danh tiếng, sống và làm việc chủ yếu dưới triều nhà Nguyên, tuy ông thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Tống. Triệu Mạnh Phủ để lại đời các bức họa về ngựa nổi tiếng, mà mỗi tác phẩm là một báu vật thời nay, được các viện bảo tàng trên thế giới vô cùng trân quý.

3. Ca tụng tài vẽ ngựa của Triệu Mạnh Phủ, người Hoa (vốn giàu óc tưởng tượng và sính chuyện thần bí) có truyền thuyết rằng, trước khi vẽ một tranh ngựa, họ Triệu lại đắm mình quan sát, suy tư về dáng dấp từng con ngựa. Có lần, nằm trên giường quán tưởng về ngựa, ông “nhập thần” tới nỗi lúc bà vợ vào phòng mời ra ăn cơm, thì khiếp vía vì thấy một con ngựa đang nằm lù lù trên giường chồng bà! Cũng có thể người Hoa bịa ra tích này do cảm hứng từ chuyện Trang Tử (khoảng 369-295 trước Công Nguyên) nằm mơ thấy mình hóa bướm, tỉnh dậy cứ phân vân không biết bướm hóa thành Trang Tử hay Trang Tử hóa thành bướm.

4. Ca tụng họa sĩ có tài vẽ thú vật linh hoạt, sống động như thật, người Hoa kể rằng có người vẽ rồng mà chừa lại hai mắt để vẽ sau cùng. Khi họa sĩ chấm mực “điểm nhãn” vừa xong thì rồng vẽ chuyển mình, ông ta bèn ném vội bút lông, thót ngay lên lưng rồng ôm chặt, và rồng liền bay vút lên không trung.

Truyền thuyết thứ hai là vào thời Đông Hán (25-220) hay Tam Quốc (184-220), một quán rượu có tranh vẽ hạc vàng trên vách. Khi chủ quán ra vỗ tay thì hạc bay xuống múa, khiến cho quán luôn luôn đông khách. Đây là cảm hứng để Thôi Hiệu 崔顥 (khoảng 704-754) thời Thịnh Đường lưu danh với bài bát cú Hoàng Hạc Lâu 黃鶴樓 bất hủ mà Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939) dịch là: “Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?/ Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ. / Hạc vàng đi mất từ xưa, / Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay…”

Tôi ngờ rằng Bồ Tùng Linh cho anh chàng nghèo kia mang họ Thôi cũng vì liên tưởng tới Thôi Hiệu, gắn liền tích con hạc trong tranh. Mà chính các truyền thuyết về tranh ngựa sống động của Triệu Mạnh Phủ đã là cảm hứng cho họ Bồ viết thành truyện con ngựa trong tranh của họ Triệu biến thành tuấn mã đáng giá tám trăm đồng tiền vàng.

5. Triết lý truyện Con Ngựa Trong Tranh

Bản tiếng Việt trên đây nói: “Té ra con ngựa trong tranh là yêu quái”. Bồ Tùng Linh chỉ ngắn gọn trong ba chữ: “họa yêu dã” 畫妖也 (tranh là yêu quái vậy). Nhưng con ngựa chẳng hề gây hại cho ai, bảo nó là yêu quái, yêu tinh thì oan ức quá! Giles (tr. 288) công bằng hơn, dịch nhẹ nhàng là: “the Prince’s horse was a supernatural creature” (con ngựa của Vương gia là một sinh vật siêu phàm, siêu nhiên). Thật vậy, lẽ ra nên bảo con ngựa ấy là một “thần mã”, vì nó giúp ích cho chàng họ Thôi nghèo túng đổi đời thành phú ông một cách ly kỳ.

Con ngựa không chọn nhà ai mà chọn nhà họ Thôi, vì sao thế? Trước hết, ta thấy chàng ta tuy nghèo mà sạch (thanh bạch). Không tham ngựa, mấy phen đuổi nó đi mà chẳng được. Cuối cùng, mượn tạm ngựa đi xa nhưng vẫn dặn người nhà chỉ chỗ cho chủ tìm tới đem về. Khi được giá cao vẫn không chịu bán vì còn chờ chủ.

Chàng là người nhân hậu. Khi ngờ rằng ngựa nhiễm bệnh thì cố ý cho nó dưỡng sức, không bắt nó phi nước đại. Khi biết ông họ Tăng gặp rắc rối với viên hiệu úy, chàng tự nguyện mang tiền tới bồi thường cho Tấn Vương. Kẻ tham có thể mặc kệ, vì nào ai biết chàng có liên đới chịu trách nhiệm.

Tóm lại, ở hiền gặp lành. Trời mượn con ngựa trong tranh để ban thưởng cho họ Thôi. Đúng như Khải Huyền (2,23) đã chép: “Ta là Đấng dò thấu lòng dạ, và Ta sẽ tùy theo việc các ngươi làm mà thưởng phạt mỗi người”.

Huệ Khải

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Ở Trung Hoa, kỳ thư Liêu Trai Chí Dị 聊齋誌異 được Bồ Tùng Linh 蒲松齡 (1640-1715) sáng tác trong khoảng hơn bốn mươi năm, từ cuối đời Minh (1368-1644) sang đầu đời Thanh (1644-1912).
Vũng Tàu và các tên gọi địa danh xưa đến nay (kỳ 12 - kỳ cuối)
Vũng Tàu và các tên gọi địa danh xưa đến nay (kỳ 12 - kỳ cuối)
Các xã Hòa Hội, Hòa Bình, Hòa Hưng thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, nhập thành xã Hòa Hội thuộc TPHCM. 
Sắc Xuân về nơi xứ đạo
Sắc Xuân về nơi xứ đạo
Những ngày cuối năm, nhiều nhà thờ khoác lên mình diện mạo mới với hoa và ánh sáng rực rỡ. Không gian các xứ đạo càng thêm rộn ràng, tràn ngập sắc Xuân. 
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Ở Trung Hoa, kỳ thư Liêu Trai Chí Dị 聊齋誌異 được Bồ Tùng Linh 蒲松齡 (1640-1715) sáng tác trong khoảng hơn bốn mươi năm, từ cuối đời Minh (1368-1644) sang đầu đời Thanh (1644-1912).
Vũng Tàu và các tên gọi địa danh xưa đến nay (kỳ 12 - kỳ cuối)
Vũng Tàu và các tên gọi địa danh xưa đến nay (kỳ 12 - kỳ cuối)
Các xã Hòa Hội, Hòa Bình, Hòa Hưng thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, nhập thành xã Hòa Hội thuộc TPHCM. 
Sắc Xuân về nơi xứ đạo
Sắc Xuân về nơi xứ đạo
Những ngày cuối năm, nhiều nhà thờ khoác lên mình diện mạo mới với hoa và ánh sáng rực rỡ. Không gian các xứ đạo càng thêm rộn ràng, tràn ngập sắc Xuân. 
Cuốn sách dạy tôi cách “thương” những lần mình thất thế
Cuốn sách dạy tôi cách “thương” những lần mình thất thế
Tôi vẫn nhớ như in buổi chiều thứ Bảy chưa xa, thành phố đón một cơn mưa bất chợt và dai dẳng. Để tránh mưa, tôi tấp vội xe vào một hiệu sách cũ nằm khuất trong con hẻm nhỏ.
Một bài thơ cuối năm chúc lành cho năm mới
Một bài thơ cuối năm chúc lành cho năm mới
Sinh ở đảo quốc Haiti (thuộc vùng biển Caribe), Hebert Logerie sang Mỹ định cư khi đang tuổi thiếu niên, sau đó tốt nghiệp đại học Rutgers (New Jersey). Từ khi còn rất trẻ, Logerie đã sớm sáng tác bằng tiếng Pháp (ký tên Hébert Logerie) và tiếng Anh (ký...
Tản mạn cà phê và người lính
Tản mạn cà phê và người lính
Có một thời, thập niên 1990, đi ngang các quán cà phê phía Bà Chiểu hay Bà Quẹo, thường nghe vẳng ra mấy câu hát “Mình, ba đứa hôm nay gặp nhau, nâng ly cà phê, với mùi hương ngạt ngào…”; hoặc “Cho tách cà phê, cô nàng xanh tóc/...
Sự trở lại ngoạn mục của loài ngựa hoang dã cuối cùng
Sự trở lại ngoạn mục của loài ngựa hoang dã cuối cùng
Suốt nhiều thế kỷ, loài ngựa hoang Przewalski luôn đóng một vai trò trong truyền thống văn hóa Mông Cổ, nơi chúng là tượng trưng cho sự tự do của miền thảo nguyên bát ngát và sức sống bền bỉ.
Di chỉ lạ về các chiến mã cách đây gần  2.000 năm
Di chỉ lạ về các chiến mã cách đây gần 2.000 năm
Các chuyên gia tại Ðức đã khai quật một “nghĩa địa” quy mô lớn dành cho loài ngựa có từ thời La Mã, trong một phát hiện được giới nghiên cứu đánh giá là “vô cùng hiếm”.
Vui xuân nơi xứ đạo
Vui xuân nơi xứ đạo
Trước, trong và sau Tết cổ truyền, ở các giáo xứ đều có tổ chức đa dạng nhiều hoạt động vui Xuân. Thiếu nhi được tham gia nhiều trò chơi vận động, vui chơi, mang lại tiếng cười, niềm vui năm mới.