Tôi trung niên và rồi đến lúc cũng phải già đi. Có thể cảm xúc rộn ràng với Tết nhất sẽ dần lùi sâu vào bên trong. Nhưng trong đất trời hoa vàng vẫn hẹn về lộng lẫy. Xuân vẫn thuần khiết, chan hòa như ngày nào tôi chập chững bước chân vào đời, xê dịch tới lui ở hai miền quê nghèo.

Cuộc đi năm ấy
Khi gia đình tôi rời miền quê heo hút ở xứ đạo Vĩnh Thái để “Nam tiến” (nghe to tát vậy, thực ra chỉ là chỉ xê dịch một chặng ngắn), rồi chọn dừng chân tại xứ đạo Quảng Thuận - một chốn khô cằn dưới chân đèo Ngoạn Mục, tôi không hiểu ba mình đã nghĩ gì và chờ đợi gì ở tương lai trong quyết định ấy. Vào những năm tháng trong thời bao cấp, nơi đến cũng chẳng hứa hẹn gì hơn nơi đi, vậy cớ gì phải làm cả một cuộc thiên di khảm lên một bước ngoặt trong lịch sử gia đình?
Nhưng đó là chuyện của người lớn. Tôi chỉ có thể lờ mờ hiểu rằng, giữa bộn bề khốn khó mà quyết liệt làm nên một “cuộc ra đi” thì chắc cũng là chuyện cân não, không thể không có lý do hệ trọng. Việc của bọn trẻ chúng tôi, đó là được đặt vào cái thế phải sớm học bài học về sự đổi thay và thích ứng với những khung cảnh sống khác biệt: bạn bè mới, trường lớp mới, xóm làng mới, và cả nắng gió, đất trời mới. Cho dù là thích ứng từ cái thiếu thốn này đến sự ngặt nghèo kia, từ sự lặng lẽ chìm khuất này đến cảnh buồn bã nổi trôi kia, thì dù gì cũng là đổi thay. Còn đổi thay là còn hy vọng.
Chính cuộc xê dịch cũng trổ toang khung trời phía trước, đồng thời âm thầm mở sâu trong tâm trí tôi một ngăn đựng ký ức. Từ đây, tôi sống với hai chiều kích thời gian. Một, bước chân trên đất mới cho một vận hội tốt lành như dự phần vào ván cược tương lai; và một, thiết lập kho tàng ký ức làm dưỡng chất tâm hồn, để cuộc trưởng thành không chỉ là hướng đến viễn tượng ngày mai, mà còn vun bồi vùng tâm thức phong nhiêu và tĩnh tại.
Tết thời ấu thơ
Vào những năm đổi mới về sau, trên vùng quê thứ hai, khi cuộc sống đủ đầy hơn, tôi vẫn khôn nguôi nhớ những cái Tết thuở lên năm lên ba ở vùng quê Vĩnh Thái, Cam Ranh. Những cái Tết chắt chiu trong ngôi làng nhỏ thu mình giữa chập chùng, một bên là biển, một bên là núi. Làng quê như một cái ga xép lãng quên, nơi những chuyến tàu chợ Bắc Nam mỗi ngày qua lại kéo hồi còi thâm u xa vắng như trong văn Thạch Lam.
Tôi không sao quên được không khí những ngày giáp Tết với cái se sắt của khí trời chuyển mùa, vẻ ủ buồn của những con đường mòn bụi cát xác xơ nhưng trên vòm trời xanh cao của mỗi hàng rào, vuông sân trước những ngôi nhà tranh vách đất lại bắt đầu bừng lên sắc vàng của hoa mai, vạn thọ, cúc cánh chuồn..., gợi vẻ đẹp đạm bạc thanh tao khó tả. Xa về phía những cánh đồng ven đường sắt Bắc Nam, màu xanh của ruộng lúa, màu bông bạc phơ của những rẫy mía, màu vôi trầm của những bãi tha ma, màu ngói đỏ thẫm của tháp chuông giáo đường như cánh buồm vút cao, màu hồng của những ao sen bừng nở… trải ra như tấm thảm muôn màu, rộng tới tận những chân đồi xanh thẳm. Cảnh sắc ấy vẫn trở về trong tôi những chiều 30 Tết, như những thước phim quay chậm ký ức, dù trước mắt tôi bây giờ là một đại lộ người xe lũ lượt hay một góc phố quạnh hiu nơi xứ người xa xôi.
Bức tranh mênh mông muôn sắc thôn quê thuở ấy được dệt từ những cuộc đời khiêm nhượng đơn sơ. Ngày Tết là thời gian ta dễ dàng cảm nghiệm thấy niềm vui của những phận đời nghèo khó, bé mọn, mà phóng khoáng tin yêu. Phải, dưới mỗi nấm nhà thấp bé ẩn mình cứ như lúc nào cũng bảo tồn và triển nở những hoài mong lành lặn. Ai cũng lam lũ, nhưng sao cuộc mưu sinh thuở ấy không vội vàng tranh đoạt và xô đẩy, tâm hồn con người luôn rộng chỗ cho sự chăm chút, nuôi nấng ân tình, dồi dào những ký thác vào điều thiện hảo ở đời. Hoa trước ngõ, hoa ngoài rào và hoa trên đồng đều đượm màu Xuân. Như thể hoa từ dưỡng chất nội tâm con người mà rạng ngời khắp chốn.
Nhà tôi mái tranh vách đất, ở sâu trong xóm nhỏ gần đường tàu. Từ con đường đầy bụi cát nhìn vào, xuyên qua khóm cây canh-ki-na làm vòm cổng, ngôi nhà ngây thơ như khuôn mặt thằng bé đồng quê gầy gò lem luốc. Trước nhà có khoảng sân nhỏ, nơi ba mẹ tôi trồng nhiều bông vạn thọ, thược dược, bông gỗ bảy màu và cúc cánh chuồn vàng ươm. Cứ vào độ Tết, khoảng sân hóa thân thành một thế giới rộn ràng hương sắc, quyến rũ lũ ong, bướm, chim chóc tụ về, hội hè mê say. Nhà nội tôi cách đó không xa, đi qua mấy dãy hàng rào trồng những cây hoa mai rậm tán, cứ đến mùa Xuân cây trút lá và nở bung những đám mây hoa vàng lộng hương.
Hoa mai Cam Ranh thân không cằn cỗi khắc khổ nhưng cũng chẳng suôn sẻ tốt tươi như loại mai chồi tỉa tót, uốn éo làm kiểng sau này; tán cây tỏa rộng tự nhiên theo nhịp mùa mưa nắng hằng năm, cành nhánh đan cài vào nhau rậm rì theo những hình thù siêu nhiên chỉ có ông trời mới hiểu được. Bên những hàng rào bụi thấp, cành nọ níu sang cành kia mà thắp lên những đám mây hoa vàng mê mải. Một điều tôi không thấy ở mai xứ khác, là cây mai Cam Ranh có mùi hương đậm đà và thanh thoát. Ba tôi nói rằng, được vậy là do khí vị của đất đai. Ngày đó tôi chẳng hiểu sâu xa gì, mãi sau này mỗi mùa Xuân trở lại xóm cũ, đứng trước một thân mai già nở bung hoa vàng tần ngần chẳng muốn rời đi, tôi mới nghẹn ngào hiểu cách diễn đạt của ba, rằng trong hương hoa Xuân có cái tâm thức con người với xứ sở.
Tôi nhớ mãi dáng ông nội lưng còng tóc bạc, trong bộ pijama màu xanh lơ, chống gậy mơ màng đi dưới những tán hoa mai vàng của ngày Tết. Khi đã lẫn, chẳng còn nhớ nổi tên con cháu, ngày Tết đến ông thường đòi mặc đẹp, đòi được lì xì như trẻ nhỏ. Về sau tôi mới nhận ra, sống đến một lúc nào đó, qua những chặng đời thăng trầm, tâm trí con người tự thấy quá đủ, sẽ tự nhiên làm một cuộc quy hồi để trở về trạng thái bình minh trong đời. Và khi ấy, cái Tết phi thời gian sẽ trở về nguyên vẹn, tinh khôi như thuở ấu thơ.
Tôi lang thang qua nhiều xứ sở trong những mùa Xuân của cuộc đời, giữa những lênh đênh sấp ngửa, đã có lúc thẩn thờ nhìn ngắm những cánh hoa mai rụng trên bước tha hương mà thèm được sống lại ký ức của ngày Tết ấu thơ. Nhưng cuộc đời là một dòng sông chảy mãi. Có những cuộc quy hồi cũng chỉ là những đốm sáng le lói của hoài niệm và ảo ảnh, làm sao có thể quay trở lại sân ga cũ trong chuyến tàu viễn du của đời người như ông tôi, người đã đi vào vùng trời hương hoa vô ưu thuở nọ.

Ra đi và trở lại
Từ khi tôi vào trung học, khoảng cách giữa quê cũ và quê mới chợt gần hơn nhờ những chuyến xe khách. Dạo đó, cứ Tết đến, mẹ tôi lại bắt xe đò Đà Lạt - Nha Trang để anh em tôi đi về chúc Tết bên ngoại. Xe đến cầu Bắc - Đồng Bà Thìn thì tôi réo to, để tài xế dừng cho xuống. Thường thì xe đi mất nửa này, đến nơi vào ban trưa, khi người ta vẫn ăn vận đồ đẹp đội nắng đi chơi Xuân khắp các nẻo làng.
Những năm đầu được về quê ăn Tết, ông ngoại tôi còn khỏe. Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh ông đánh xe bò ra đón bầy cháu ngoại. Cả mấy anh em tôi trùm áo ngồi trên cộ xe bò, con bò thủng thẳng đi qua những con đường cát lún xịa bên nọ xẹo bên kia. Chắc con bò cũng rầu lắm vì ngày Tết chẳng được nghỉ ngơi. Thỉnh thoảng ông ngoại tôi lại vụt roi nhắc nó bước nhanh, nhưng nó cứ nghểnh đầu bước đi từ tốn như thể năm rộng tháng dài, chẳng có gì phải lăn tăn. Chúng tôi đi qua con đường mòn xuyên những tán xoài lớn đổ bóng dưới trời nắng chang chang, những rẫy mì và rẫy mía xao xác. Khi đến ngã ba chợ Vĩnh Thái, thì hiện lên trước mắt tôi những hàng rào nở hoa mai vàng rực, những sân nhà hoa vạn thọ, hoa hướng dương vàng ươm. Đó là khung cảnh Tết nhất mà nơi chôn nhau cắt rốn chào đón đứa con xa trở về. Tháp chuông nhà thờ như cánh buồm lộng cũng hiện lên giữa trời xanh thăm thẳm. Quê hương chòng chành, lắc lư trước mặt, thân quen gần gũi mà cứ như xa xăm diệu vợi. Thỉnh thoảng có người đi chơi Tết bất chợt phanh xe đứng lại vẫy mũ quở: “Ủa, tụi nhỏ mau lớn quá ông Sang!”. “Về chơi Tết rồi ở lại với ông bà luôn cho vui nhà vui cửa nhen!”. Có khi tôi gặp một thằng bạn cũ thời học mẫu giáo, nó đu theo cộ bò ríu rít chuyện trò cứ như trong mấy năm qua, tôi chưa từng lớn lên và rời xa ngôi trường làng nơi này.
Vừa tới đầu ngõ nhà ngoại, tôi đã thấy cậu dì ra chờ đón. Các cậu cõng chúng tôi trên những bờ vai rộng và chạy chơi khắp vườn. Các dì thổi lửa nấu những món ngon dọn sẵn cho bầy cháu ăn Tết. Còn bà ngoại, biết Tết nhất thế nào bọn tôi cũng về, từ đầu tháng Chạp đã đi chợ mua mấy xấp vải, may cho mỗi đứa một bộ đồ mới làm quà. Đồ bà may bao giờ cũng vừa vặn, có khi rộng hơn chút đỉnh vì mỗi đứa chúng tôi đều lớn lên trong tâm trí của bà từng ngày, thế nên chẳng cần phải kéo dây thước mà đo.
Những ngày Tết ở quê cũng nhiều trò vui. Chúng tôi được các cậu dẫn đi xem đá gà (hồi đó đá gà đơn giản là trò chơi vui vẻ, không phải cá cược gì như bây giờ), đi lượm pháo ở mấy nhà hàng xóm, hay đi nghịch ngợm thọc bắt tổ chim ở ngoài vườn... Tối đến, thời nhà nhà còn dùng bình ắc quy để thắp sáng mấy ngọn đèn tròn và cả thôn mới có một vài cái tivi đen trắng đặt ở hội trường hợp tác xã, vậy mà xóm nhà ngoại đã có dàn trống đàn để thanh niên chơi nhạc đám cưới, mỗi tuần còn tổ chức một hai đêm nhạc sống. Đêm Xuân, thanh niên tụ tập nhảy đầm và hát hò đến khuya. Người người già trẻ lớn bé đắm mình trong âm nhạc. Người biết nhảy mạnh dạn nhảy đầm, người không biết nhảy cũng khua tay múa chân kéo theo những tràng cười nghiêng ngả. Cốt là vui. Bao nhiêu được mất, thất bát hay bội thu nương rẫy một năm qua gần như xếp lại.
Trong làng quê nghèo của thời bao cấp chuyển mình sang đổi mới, cái Tết càng rộn vui. Khoảng sân nhà nào cũng câu sáng những bóng đèn tròn, đèn típ, hoa vàng mỗi nhà đẹp lung linh ngày cũng như đêm. Những mùa Xuân thanh bình tươi vui của những năm cuộc sống mới đổi thay có cái râm ran lạ lùng mà về sau này rất khó có được: cái nhìn hy vọng và lạc quan hướng về tương lai.
Rồi ngày Tết cũng đi qua thật nhanh. Bao giờ cũng vậy, ngoại thường nhắc anh em tôi trước khi rời đi, nhớ trở về xóm cũ thăm người quen. Chúng tôi đạp xe về đứng lấp la lấp ló trước nếp nhà xưa, dò theo những hàng rào vàng rực hoa mai và ghé chúc Tết xóm giềng năm cũ. Bao giờ anh em tôi cũng được bà con chòm xóm khen: “Trời ơi, tụi nhỏ đi bao năm vẫn nhớ xóm làng mà trở về”. Lũ bạn bè trong xóm xưa xúm xít chơi đồ hàng bên mấy vồng khoai bụi sắn, mà qua thời gian đứa nào đứa đó lớn vụt lên, khi gặp lại cứ ngượng nghịu, ngỡ ngàng.
Từ hiên nhà cũ, tôi vẫn nhớ hình ảnh ba trong màu áo rẫy với cây cuốc trên vai những chiều muộn trở về, nhớ mẹ những ngày giáp Tết tất tả gánh bắp đi nổ để làm bánh in, nhớ gian bếp thơm ngây ngất mùi mứt gừng, mứt dừa, mứt chùm ruột và dậy vị bột trứng bánh thuẫn, nhớ những sáng mùng Hai có ông thợ ảnh đeo chiếc máy trước ngực ghé nhà, loay hoay sắp xếp bố trí góc nọ góc kia rồi chụp cho gia đình một hai pô ảnh kỷ niệm...
Những cái Tết về sau dẫu có đủ đầy đến đâu, tôi cũng không sao quên sự chắt chiu của ngày Tết thời ấu thơ khốn khó ấy. Và tôi chợt hiểu ra điều giản dị làm nên phong vị Tết đó không phải là sự đủ đầy vật chất sẵn có, mà là sự chắt chiu nâng niu trạng huống hạnh phúc và những hoài vọng sung túc mọi mặt trong đời.
Những lối dẫn mùa Xuân
Càng lớn lên, khoảng cách giữa hai vùng quê Ninh Sơn - Cam Ranh trong tôi gần như không còn vì đường sá thênh thang hơn, xe khách đi lại dễ dàng hơn. Những ngày Tết, gia đình tôi dành cho quê này một ít, quê kia một ít. Tôi dần nhận ra mai vàng ở hai vùng quê đều có vẻ đẹp thanh thoát từ trên kham khổ của những miền trung du không thuộc biển mà cũng chẳng thuộc về núi. Tôi thấy trong màu vàng hoa vạn thọ ở những vùng cát sỏi nơi tôi gắn bó cũng chung sắc độ với loài hoa xứ cát ở nơi chốn tôi gởi nắm nhau, cọng rốn. Và con người chân chất có cùng miền quê, cùng giọng nói mang thổ âm những người Công giáo miền Trung di tản từ những năm 1970 cũng lại là điểm chung của hai vùng đất này. Tôi dần dần không thấy sự cách biệt của hai vùng quê và không còn cảm giác tâm hồn mình như một sợi dây cố định, cứ rút bên này thì hụt bên kia. Tôi rong chơi giữa hai xứ sở quê hương, băng qua chặng đường chưa đến bảy mươi cây số, với cảnh rừng, biển và những làng mạc thanh bình trải dài. Hết núi lại biển, hết biển lại núi, trong màu Xuân mải miết.
Những trưa mùng Hai Tết, ở ngã ba Đồng Bà Thìn, không còn ông ngoại với chiếc cộ bò đủng đỉnh đứng đợi bầy cháu dưới cái nắng vàng se se gió biển, mà thay vào đó là đội xe thồ của cậu tôi đón chờ. Rồi dần dà, cậu tôi cũng bỏ chiếc Minsk về nghỉ dưỡng già, nhưng chúng tôi vẫn đúng hẹn trở về đứng đó, lóng ngóng đợi người quen ra đón.
“Cháu ông Sang phải không?”, có người trong nhóm xe ôm lên tiếng hỏi. “Dạ đúng rồi. Chú cho con về Vĩnh Thái”. “Ừ, biết rồi. Xa xứ bao năm vẫn nhớ đường về thăm quê ngoại ha?”. “Có đi xa bao giờ đâu chú”. Bất giác, người tài xế xe ôm mở khẩu trang, tóc tai đượm nét phong trần ngoái lại nhìn tôi, nói: “Bộ không nhớ tui hay sao mà gọi bằng chú?”. Tôi ngơ ngác ậm ừ... “Tao là thằng T, ngày trước học lớp mẫu giáo với mày đây mà. Tao với mày wính lộn nhau suốt, không nhớ sao?”.
Ôi, thằng bạn chí cốt mỗi năm vẫn đeo trên cộ bò mỗi khi tôi về thăm quê. Bây giờ sao nó ra dáng đàn ông trung niên, chững chạc đến vậy, còn tôi, sao cứ như vẫn là cậu bé xa quê chẳng chịu lớn chút nào?
Tôi xốc ba lô ngồi sau lưng thằng bạn, chạy qua những con đường trải nhựa luồn dưới những tán xoài cổ thụ nối tiếp nhau, băng qua rẫy mía, rẫy mì, ngang cổng nhà cô giáo cũ vừa khuất núi. Và rồi cũng tới ngã ba chợ, nơi những hàng rào thẳng tắp được tô điểm bằng những khóm mai vàng bung nở như những đám mây ngọt ngào ngày Xuân.
Hương sắc muôn hoa là con đường dẫn tôi trở về với mùa Xuân quê hương.
Tùy bút của NGUYỄN VĨNH NGUYÊN
Bình luận