Khi tháng Chạp về, kéo theo những tất bật quen thuộc của chuỗi ngày cuối năm Âm lịch. Đường sá bắt đầu thay áo bởi sắc vàng của cúc, của mai, điểm thêm chút đỏ của dây pháo, của những tấm liễn treo kín trước cửa tiệm. Và đâu đó, nơi những góc đường ít người để ý, vài tấm bảng “đánh lư đồng” lặng lẽ treo lên, chờ người mang những bộ lư tới lau chùi, đánh bóng. Một công việc thời vụ, âm thầm và nhỏ bé, nhưng lại neo giữ không ít phong tục, lễ nghi và những lớp trầm tích văn hóa của người Việt. Từ những cách làm thủ công sơ khai, gắn với không gian ấm cúng của mỗi gia đình, nghề chùi lư hôm nay đã chuyển mình thành một dạng dịch vụ, kết hợp sử dụng máy móc, để thích nghi với nhịp sống đô thị.

“Nghi thức” những ngày cuối năm
Trong quan niệm của người Việt bao đời nay, bộ lư đồng hiện diện trên bàn thờ không đơn thuần là một vật phẩm trang trí. Đó là biểu tượng của sự gắn kết giữa con cháu với tổ tiên, giữa đời sống hiện tại với những lớp ký ức gia đình được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Bởi vậy, việc giữ cho bộ lư hương luôn sáng sạch, trang nghiêm đã trở thành một bổn phận.
Ngày trước, chùi lư đồng chưa phát triển thành một dịch vụ thuê mướn phổ biến như bây giờ, mà đơn thuần là công việc tự làm hằng năm trong từng nếp nhà. Thường sau ngày 25 tháng Chạp, khi mâm cúng đưa ông bà đã xong, bàn thờ tạm coi như “gia tiên đi vắng”, con cháu mới thỉnh bộ lư xuống để lau chùi. Nhắc lại thói quen xưa, ông Nguyễn Văn Hân (70 tuổi), người có gần 50 năm gắn bó với nghề chùi lư trên đường Trần Quang Khải (phường Tân Định) cho biết: “Thường sau 25 Tết là người ta bắt đầu làm. Lúc đó bàn thờ trống, con cháu mới dám đem lư xuống chùi cho đàng hoàng”. Ký ức của ông Hân ở thị thành cũng là hoài niệm chung của nhiều người từng lớn lên ở làng quê. Mỗi độ cuối năm Âm lịch, nhà nào cũng dành riêng một ngày để chùi lư, coi như một phần việc quan trọng trước thềm năm mới. Không khí hôm ấy thường chậm rãi, tỉ mẩn, gắn với sự quây quần của cả gia đình. Người xưa chùi lư bằng những nguyên liệu rất đỗi giản dị, sẵn có trong vườn nhà như chanh, khế, tro bếp, giấm ăn, rơm rạ, cát, muối… Phổ biến nhất vẫn là chanh hoặc khế, chà trực tiếp lên bề mặt lư, hoặc pha loãng với nước rồi lau từng chi tiết. “Nhà tôi hồi xưa lấy than củi đập nhuyễn, trộn với nước chanh hay giấm chua để tạo độ tẩy rửa, xong rồi đem chà lên đồ đồng, sạch thì có sạch, mà cả ngày mới chà xong, chưa tính mấy bộ lư mà nhiều hoa văn, chạm trổ cầu kỳ thì kỳ cọ hai, ba ngày là bình thường”, ông Hân kể.
Lư sau khi chùi sạch được rửa lại bằng nước ấm rồi đem phơi dưới nắng tự nhiên. Cách làm này chỉ làm bay bụi bẩn, vẫn giữ được sắc đồng trầm ấm, nguyên bản thứ màu của thời gian, coi như bảo tồn phần hồn của bộ lư trên bàn thờ gia đình.

Nghề chùi lư thời AI
Tiệm chùi lư của ông Phan Tấn Vũ (50 tuổi) trên đường Lê Văn Duyệt, phường Gia Định không phải làm dịch vụ chuyên biệt. Phía trước vỉa hè là máy bơm cùng vài món đồ nghề sửa xe của một người khác, sát vách tường bên trong treo tấm bảng nhỏ ghi dòng chữ “Nhận đánh lư đồng”, kèm số điện thoại. Giữa con đường người xe qua lại như mắc cửi, người thợ này vẫn chăm chú lau từng lớp bụi bám trên một bộ chân nến, chuẩn bị đánh bóng.
Ông Vũ nói mình gắn bó với nghề chùi lư đã hơn 20 năm, chủ yếu làm vào tháng giáp Tết. Ngày thường, ông buôn bán tại nhà dưới cầu Đỏ. “Tiệm này trước là của người chú. Mỗi năm giáp Tết khách đông nên chú kêu tôi phụ. Chú tôi làm nghề này cũng hơn 30 năm, nay đã ngoài 70 tuổi, lớn rồi nên không làm nữa, để lại cho tôi”, ông vừa làm vừa thông tin. Trước khi bén duyên với nghề, ông Vũ từng là thợ đánh bóng tay nắm xe cho một hãng ô tô lớn ở Gò Vấp. Nhờ quen tay với máy móc, thao tác cơ khí, nên khi chuyển sang chùi lư, ông nhanh chóng bắt nhịp với công việc, đặc biệt là các công đoạn đòi hỏi sự chính xác và an toàn cao.
Khác với kiểu chùi lư truyền thống dựa hoàn toàn vào sức người, nghề chùi lư ngày nay đã gắn liền với máy móc và hóa chất công nghiệp. Những thiết bị có tốc độ quay cao giúp rút ngắn thời gian, đồng thời tạo độ bóng đều, đẹp hơn. Chiếc máy ông Vũ sử dụng có trục xoay hai đầu, một đầu gắn bánh xe làm từ vải jean để làm bóng bề mặt; đầu còn lại gắn dụng cụ mài chuyên dụng cho đồ đồng, dùng xử lý những bộ lư bị trầy xước, lủng lỗ. Quy trình chùi lư rất đơn giản, sau khi nhận từ khách sẽ ngâm qua nước để làm trôi lớp bụi bẩn bám lâu ngày, rồi đem phơi nắng cho khô trước khi làm. Người thợ dùng cục “lơ” (sáp) bôi lên bề mặt bánh xe vải để tẩy vết ố, rà từng chi tiết, kỹ càng xoay trở để không sót mặt nào.
Theo ông Vũ, công đoạn đánh bóng là khó nhất và cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Người thợ buộc phải trang bị đầy đủ khẩu trang, kính, găng tay bảo hộ. Bởi trong bộ lư thường có những chi tiết sắt nhọn, như đế chân nến chạm hình cánh sen. Nếu thao tác không đúng tư thế, bánh xe đang quay có thể “giật” mạnh, khiến các chi tiết bật ngược trở lại, rất dễ gây thương tích. Chưa kể lượng bụi đồng phát tán trong không khí cũng có thể ảnh hưởng đến đường hô hấp, nếu không che chắn kỹ lưỡng.
Nhắc đến những kỷ niệm trong nghề, ông Vũ nhớ lại lần nhận chùi một bộ lư lá trúc - một món đồ cổ được gia chủ gìn giữ như của gia bảo: “Họ dặn tôi kỹ lắm, vì bộ lư này ông bà mang từ Huế vô, quý vô cùng”. Bộ lư với vô số chi tiết ấy đã khiến ông mất hơn một ngày để lau chùi, đánh bóng, trong khi những bộ thông thường chỉ mất khoảng 20 đến 50 phút, tùy kích cỡ. Những ngày cận Tết, mỗi ngày ông có thể nhận từ vài chục đến cả trăm bộ lư. Có những thời điểm sát giao thừa, lượng khách quá đông buộc ông phải từ chối nhận thêm, vì sợ không kịp trả lư cho họ đón Tết.
Không chỉ riêng ông Vũ, các “trạm” chùi lư đồng xuất hiện rải rác khắp các con đường Sài Gòn trong tháng Chạp. Từng tốp khách đến rồi đi, mang theo các bộ lư đồng như gởi gắm niềm thành kính và mong cầu một cái Tết tươm tất, trang nghiêm cho bàn thờ gia tiên. Và những người thợ chùi lư - bằng công việc thời vụ đến hẹn lại lên - vẫn lặng lẽ không chỉ đánh bóng lớp đồng xỉn màu, mà còn gìn giữ những nếp xưa, những tấm lòng thơm thảo của thế hệ cháu con biết hướng về nguồn cội…
ANH THƯ
Bình luận