Diễn Tết

Trong một bài báo hơn 70 năm trước, tựa là “Hồi xưa nghệ sĩ ăn Tết ra sao” (Báo Ánh Sáng Xuân Ất Mùi 1955), tác giả Lê Vân đã thuật lại tỉ mỉ về chuyện lo liệu Tết cho các nghệ sĩ cải lương. Để chuẩn bị hát Tết, trước hết các ông bà bầu gánh sẽ tính toán tiền nong thừa thiếu với các nghệ sĩ và các nhân viên khác để ký thêm giao kèo, mục đích là giữ lấy những nhân tài để kiếm ăn vào những buổi diễn đầu năm. Thường các gánh hát cho đào kép nghỉ hai đêm 29 và 30 tháng Chạp lo chuyện nhà cửa Tết nhất, để rồi sau đó sẽ vẽ phấn bôi son lên sân khấu khóc cười vào buổi khai trương Xuân. Đêm diễn đầu năm được họ chọn ngày kỹ càng, căn cứ vào Âm lịch, và ngày khai trương có thể là một trong bốn ngày Tết, miễn sao là ngày tốt.

KC3.jpg (14.29 MB)

Trước khi cho đào kép nghỉ sớm ăn Tết, các bầu gánh sẽ bàn bạc nên chọn tuồng tích nào để trình diễn năm mới. Căn cứ vào ý kiến thầy tuồng, rà soát số quần áo, phông cảnh... cùng những nghệ sĩ “gà nòi” đang có, bầu gánh mới định ngày khai diễn, và hôm nào sẽ diễn vở tuồng nào. Ngày xưa còn có tục lệ là “bói tuồng”, tức người ta đi xem tuồng và qua đó sẽ đoán năm nay hên xui ra sao. Chiều theo thị hiếu của khán giả muốn dịp Tết chỉ mong gặp được điều may mắn, các gánh hát thường diễn những tuồng vui, đẹp mắt, có hậu như Tam hoàng tử tranh hôn, Tần vương du Xuân, Phụng Nghi đình, Lục quốc phong tướng, Tứ tử đăng khoa v.v... Soạn giả cố ý cắt bỏ những đoạn thương tâm tang tóc, cho diễn những cảnh đời đẹp đẽ huy hoàng, hạnh phúc ấm êm đủ đầy (như cảnh lấy vợ lấy chồng, sinh con, thi đỗ làm quan, cảnh gia đình đoàn tụ sau thời gian truân, lưu lạc...). Về sau, cách diễn Tết của vài gánh hát có hơi thay đổi. Vì thiếu hia mão, giáp bào, phong cảnh rực rỡ của tuồng Tàu; thiếu cả những kiện tướng đóng tuồng, nên để làm vừa lòng khán giả ưa ca vũ nhạc diễm huyền, có những gánh trình diễn mười màn đặc sắc ca cải cách, nhạc kịch, nhạc cảnh, hoặc một lớp cải lương tuyển lựa...

Ở những gánh hát cũng có truyền thống “xông rạp” (như “xông đất” ở nhà dân bình thường), do chính bầu gánh xông lấy rạp của mình đang diễn. Tối 30, cửa rạp đóng kín mít đến đúng phút Giao thừa thì mở ra đón ông bà bầu gánh vào. Bầu đến bàn thờ Tổ cúng vái xong tự tay hạ đồ lễ thưởng thức một hai miếng lấy khước, rồi phân phát lộc Tổ cho anh chị em toàn gánh có mặt trong thời khắc Giao thừa. Kế đó, một người đại diện cho nghệ sĩ bưng đĩa trầu lộc Tổ mời chủ gánh dùng trước để lấy may mắn cho năm mới. Sau đó, đến lượt ông thầy tuồng đại diện cho anh chị em trong nghề cúng bái, xin Tổ bảo trợ cho làm ăn thông suốt bén giọt quanh năm. Trước khi về nhà riêng, bầu gánh chúc cho toàn thể “nhất bản vạn lợi”. Những nghệ sĩ không nhà để về thì sau Giao thừa, lễ Tổ đã xong, sẽ quây quần trút tâm sự vào khói thuốc muội đèn, vào lá bài hay thả hồn phiêu diêu trong cảm xúc đầu Xuân. Từ sáng đến trưa mùng Một Tết, các nghệ sĩ đến nhà riêng chúc Tết ông bà bầu gánh. Đáp lại, ông bà chủ chúc vài câu lấy lệ và lì xì cho từng nghệ sĩ, tùy theo tài năng mà phong bao tiền sẽ nhiều hay ít. Rồi từ đêm khai trương Tết, các nghệ sĩ lại sống với ánh đèn huy hoàng, phong cảnh giáp bào hia mão rực rỡ, kèn trống rộn ràng, giúp vui khán giả.    

KC6.jpg (5.68 MB)

Tác giả Lý Di A trong bài “Khi Xuân đến với kép đào trên Nguyệt san Thời Nay số Xuân Kỷ Dậu 1969 cho rằng, các đoàn hát tuồng Tết với mục đích có thêm tiền tiêu xài, như giới viết lách thì làm báo Tết vậy. Cũng theo ông, vì khách đi coi hát ngày Tết có tục bói tuồng nên chủ gánh hát và soạn giả cân nhắc nhiều khi đưa ra một vở tuổng diễn Tết, dễ nhất là khai thác thần thoại hay huyền hoặc. Ngoài ra, tựa tuồng cố gắng phải có chữ Xuân mới được khán giả thích, như “Người đưa tin Xuân”, “Mùa Xuân của nàng”, “Nắng đẹp vườn Xuân” v.v... Có chữ Xuân mới ra không khí Tết. Trước đó, từ ngày 25 tháng Chạp, nghệ sĩ cải lương và nhân viên sân khấu đã không còn hát để làm lễ đưa Tổ nghiệp. Từ đó cho đến mùng Một sẽ nghỉ ngơi, chuẩn bị Tết, về thăm nhà. Lúc này, chủ sẽ xét công trạng của từng người để ban thưởng. Thời ế ẩm thì không còn lệ này nữa mà ứng tiền trước ăn Tết, sau đó trừ vào thù lao các suất hát ban ngày vào đầu năm.

Hát Tết thường mỗi ngày diễn ba suất sáng, trưa và tối, trong suốt bảy ngày đầu năm (theo thông lệ, nếu khai trương diễn Tết ngày mùng Một thì suất đầu sẽ rơi vô khoảng 3 giờ chiều, sau đó là suất tối, và ngày này chỉ có hai suất; từ mùng Hai đến mùng Mười hay rằm thì diễn ba suất một ngày). Lịch diễn chặt như vậy nên ai nấy ở lại hết vì về không kịp, kể cả nghệ sĩ ngôi sao có xe cộ, nhà riêng. Đoàn lớn phát lương gấp đôi cho đào kép trong ba ngày mùng Một, Hai và Ba. Đoàn nhỏ hay gánh lớn nhưng ế khách thì chỉ phát lương đôi vào ngày mùng Một, những ngày kế lãnh lương như cũ. Tiền bản quyền tuồng hát Tết cũng khá cao, tất nhiên phải là soạn giả rường cột hay tài danh lắm mới có tuồng được lựa diễn Tết. Nếu là tay mơ, muốn được có tuồng hát Tết phải nhờ soạn giả có tiếng nào đó sửa tuồng của mình, dù có khi không sửa bao nhiêu nhưng ghép thêm tên “cây đa cây đề” vô mới mong được chọn, tỷ lệ 60% cho ông nổi tiếng và 40% cho người chưa nổi tiếng. Phần chủ rạp thì chia tỷ lệ với chủ gánh là 27/73, trên tổng doanh thu bán vé. 

Đi diễn ngày Tết là hoạt động nghề nghiệp đặc thù của giới nghệ sĩ. Là người mang tiếng hát câu cười đến cho khán giả, họ chấp nhận điều đó, dù trong lòng cũng có ít nhiều trăn trở, giằng co. Không diễn Tết thì trống vắng và thấy mình chưa sống trọn với nghề nghiệp, nhưng vắng mặt ở nhà vào “ngày Tư ngày Tết” lại ảnh hưởng lớn đến nếp sống của gia đình. Nếu chồng vợ cùng nghề còn dễ thông cảm, có chồng hay vợ khác nghề mà được hiểu thì là may mắn, còn không thì sẽ diễn ra mâu thuẫn và đã có nhiều cuộc chia tay.

KC5.jpg (9.10 MB)

Cố nghệ sĩ nhân dân Phùng Há, tên tuổi lớn của sân khấu cải lương miền Nam, từng có những suy nghĩ về việc này, đăng trên Báo Tiếng Chuông Xuân Quý Mão 1963, so sánh chuyện diễn Tết thời đó (thập niên 60) với giai đoạn những năm 20-30 của thế kỷ trước: “Ngày xưa đi hát không phải mệt đầu, nghệ sĩ tuy có cực về việc di chuyển từ nơi này qua nơi nọ, nhưng ai nấy đều thong thả về mặt tiền nong và biết thương yêu đùm bọc nhau hết lòng. Nợ nần cũng không làm khổ sở nghệ sĩ. Ai cũng sợ nợ lắm, ăn uống tiêu xài có chừng mực, mọi người đều có tinh thần chịu đựng sự thiếu thốn, ít có người không biết giữ căn giữ bổn, có nhiều xài nhiều, có ít xài ít. Do đó mà ngày Tết ai nấy đều có tiền về quê thăm nhà, mua quà bánh biếu tặng bà con láng giềng. Tôi thấy lớp nghệ sĩ của bọn tôi ngày xưa hát ít tiền nhưng sống có phần sung túc. Tết không hát; khoảng 25, 26 Tết là gánh chuẩn bị nghỉ rồi. Bầu gánh cho đào kép mượn tiền xài Tết đầy đủ và mọi người chia tay về quê quán thăm viếng gia đình. Đến mùng 7, mùng 8 Tết gánh hát mới bắt đầu hát lại. Do đó mà người nghệ sĩ có dịp sum họp vui vẻ với gia đình như tất cả mọi người. Ngày nay, nghệ sĩ đều phải hát Tết nên họ mất lạc thú của con người Á Đông vào dịp Tết nhứt. Lúc tôi còn nhỏ, dịp Tết là dịp tôi và má tôi kiếm được nhiều tiền nhứt trong năm. Trước khi gánh nghỉ, má mua vải sồ bán lại cho đào kép, rồi chúng tôi cũng nhận may quần áo cho họ. Hồi trước kép thì chỉ mặc đồ bà ba hoặc đồ bi-da-ma là sang nhứt, còn đào thì áo dài hàng là sang tột bực rồi. Ngoài việc may mướn quần áo mới cho họ về ăn Tết, tôi còn thêu khăn bán cho họ nữa. Cả gánh hát gồm những mấy mươi người, má con tôi may mướn một cái Tết kiếm được rất nhiều tiền. Tôi thì được các anh các chị yêu mến cho ăn không, cả tháng không xài ra một xu nào, nên tiền lương còn y nguyên. Được ít lâu, chúng tôi phát tài rất mau, tháng nào tôi cũng sắm một vài lượng vàng. Tuổi 15, 16 tôi đã có hột xoàn. Ham lắm, tôi trông cho mau đến Tết để dịp kiếm ra nhiều tiền. Mẹ con tôi chỉ trở về thăm nhà một vài bữa rồi trở xuống gánh làm bánh trái bán cho anh chị em đào kép không về quê. Những năm đầu trong đời đi hát đem lại cho tôi niềm vui sướng triền miên, đó thời gian ghi đậm nét trong tôi nhiều kỷ niệm êm đềm nhứt.

Nhạc sĩ Huỳnh Hữu Thạnh sinh ra trong một gia đình có nhiều đời làm nghệ thuật: ông nội là soạn giả Tư Chơi, bà nội là nghệ sĩ Kim Thoa, cha là nhạc sĩ Huỳnh Hiếu - tay trống số 1 Đông Dương một thời. Năm 14 tuổi, ông đã theo cha đi chơi nhạc ở các sân khấu, vũ trường, nên hiểu chuyện nghệ sĩ không ăn Tết là rất bình thường, trừ khi… thất nghiệp, vì ngay gia đình ông, từ nhỏ đã quen chuyện cảnh nhà vắng teo ngày Tết. Ông kể hồi đó, tối ba ông đi diễn rồi đi chơi với bạn bè tới khuya, ngày mệt ngủ vùi nên đâu có tiếp khách nổi. Sau này nối nghiệp cha, ông cũng xem Tết là dịp làm việc căng nhất, kiếm tiền nhiều nhất. Đó chính làTết nghệ từ trước đến nay không thay đổi, lúc người khác nghỉ ngơi là lúc họ lao vào cuộc biểu diễn mang đến niềm vui cho người đời.

Phạm Công Luận

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Hơn năm mươi năm trước, có một chú bé thường sang xưởng vẽ gần nhà, say sưa ngắm nhìn các tranh vẽ về nhà thờ, về Chúa Giêsu… Nét vẽ đã tạo nên dấu ấn thánh thiện ngay từ năm tháng đó, thật bất ngờ, chú bé ấy về sau...
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
“Thời gian không phải là vàng. Thời gian quý hơn vàng, vì thời gian không bao giờ trở lại. Chính xác như Gimiko” là câu quảng cáo kèm tiếng ngựa hí vang từng xuất hiện với tần suất dày trên các kênh truyền hình vào những khung giờ vàng, đã...
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Ở Sài Gòn, không khó để bắt gặp những lớp học cưỡi ngựa hay các trang trại có dịch vụ chụp ảnh cùng ngựa.
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Hơn năm mươi năm trước, có một chú bé thường sang xưởng vẽ gần nhà, say sưa ngắm nhìn các tranh vẽ về nhà thờ, về Chúa Giêsu… Nét vẽ đã tạo nên dấu ấn thánh thiện ngay từ năm tháng đó, thật bất ngờ, chú bé ấy về sau...
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
“Thời gian không phải là vàng. Thời gian quý hơn vàng, vì thời gian không bao giờ trở lại. Chính xác như Gimiko” là câu quảng cáo kèm tiếng ngựa hí vang từng xuất hiện với tần suất dày trên các kênh truyền hình vào những khung giờ vàng, đã...
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Ở Sài Gòn, không khó để bắt gặp những lớp học cưỡi ngựa hay các trang trại có dịch vụ chụp ảnh cùng ngựa.
Đua ngựa ở Sài Gòn qua những dòng ký ức
Đua ngựa ở Sài Gòn qua những dòng ký ức
Môn đua ngựa chuyên nghiệp đã qua thời vàng son từ lâu. Ngựa đua đã tháo vó, nài ngựa đã thu roi, nhưng mỗi khi đi ngang khu vực trường đua Phú Thọ xưa, người hoài cổ vẫn thấy chút nao nao.
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Ở Trung Hoa, kỳ thư Liêu Trai Chí Dị 聊齋誌異 được Bồ Tùng Linh 蒲松齡 (1640-1715) sáng tác trong khoảng hơn bốn mươi năm, từ cuối đời Minh (1368-1644) sang đầu đời Thanh (1644-1912).
Rượu Việt trong cảm thức người phương Tây xưa
Rượu Việt trong cảm thức người phương Tây xưa
Nền văn hóa ẩm thực của dân Việt, tự cổ chí kim, dù có những thay đổi, nhưng tìm hiểu căn cốt, vẫn có những mẫu số chung bất biến. Hãy nhìn xem, trong mâm cơm người Việt, bát nước mắm nào có thể thiếu, và công thức cơm -...
“Chợ Tết Bắc”  giữa lòng đô thị phương Nam
“Chợ Tết Bắc” giữa lòng đô thị phương Nam
Sài Gòn có những góc phố, phiên chợ đượm hương Tết của vùng Bắc Bộ xưa. Vùng Ông Tạ cùng sắc xanh lá dong, xôi đỗ, chè Thái Nguyên; chợ Xóm Mới với mùi thơm nồng nàn của giò chả, măng miến... Những phiên chợ đậm nét văn hóa như...
Dải hoa vàng nối hai miền quê
Dải hoa vàng nối hai miền quê
Tôi trung niên và rồi đến lúc cũng phải già đi. Có thể cảm xúc rộn ràng với Tết nhất sẽ dần lùi sâu vào bên trong. Nhưng trong đất trời hoa vàng vẫn hẹn về lộng lẫy.
Nghề chùi lư và sự kết nối tổ tiên
Nghề chùi lư và sự kết nối tổ tiên
Khi tháng Chạp về, kéo theo những tất bật quen thuộc của chuỗi ngày cuối năm Âm lịch. Đường sá bắt đầu thay áo bởi sắc vàng của cúc, của mai, điểm thêm chút đỏ của dây pháo, của những tấm liễn treo kín trước cửa tiệm.