Giáo lý của thấu hiểu và yêu thương

Trước giờ thánh lễ sáng Chủ nhật, có một phụ huynh rón rén đến xin gặp một bà sơ trẻ. “Thưa sơ, cho con ít phút để con trình bày hoàn cảnh. Chuyện là thằng con trai con sắp bị sơ cho ở lại lớp chỉ vì vắng ba buổi. Nó xuống tinh thần quá luôn sơ ơi. Thường ngày nó cũng chăm chỉ đến lớp lắm nhưng mà trong ba buổi vắng thì có hai buổi nó bị sốt, còn một buổi thì gia đình có việc ở quê, tụi con cũng cố gắng lắm rồi nhưng không thể nào chạy vào kịp giờ học của thằng nhỏ...”.

Hành lang trước buổi lễ sáng, ông phụ huynh quệt mồ hôi trán, cố gắng trình bày lý do, còn bà sơ thì vẫn cứ nhẹ nhàng mà nguyên tắc. Với bà sơ thì nếu không có nguyên tắc, nhiều phụ huynh sẽ không quan tâm, xem nhẹ chuyện học giáo lý của con cái.

Cuộc tranh luận của họ diễn ra cũng nhẹ nhàng nhưng từ hai phía, phía này là của những điều kiện và phía kia của sự mong chờ được cảm thông. Cho đến một lúc, thấy khó bề lung lay những nguyên tắc “thép” của bà sơ, người cha buộc phải nói rằng: “Thưa sơ, việc vắng ba buổi sẽ bị ở lại lớp có thể đẩy thằng nhỏ tới chỗ bỏ học giáo lý luôn, vì năm tới là năm cao điểm của việc học ở trường, nó phải thi chuyển cấp. Và một lý do nữa, con không thể thuyết phục được má nó cho nó đi học vì từ lâu má nó cũng bỏ nhà thờ rồi...”.

Bạn đọc sẽ đặt mình vào vai của bà sơ để mà chọn một cái kết cho câu chuyện có thật nói trên. Ông tác giả sẽ tạm giấu cái kết trên thực tế đi, vì ông cũng mong đó là một cái kết có hậu: người cha được hiểu, đứa con của anh ta tiếp tục được theo lớp giáo lý mà không phải chán nản vì bị ở lại lớp chỉ vì vắng ba buổi học.

Khi tôi kể câu chuyện này với một người từng là giáo lý viên lâu năm, như được khơi nguồn, anh ta cũng tặng lại cho tôi một câu chuyện khác. Nói đúng hơn, đó là một lời bộc bạch, một mối day dứt khôn nguôi mà anh cần giải tỏa...

Năm đó anh là trưởng nhóm giáo lý viên trong một giáo xứ nghèo. Trẻ con trong xứ đa phần là thất học, phải đi làm phụ việc cho cha mẹ, đứa bán vé số, đứa phụ gói hàng ở bãi chợ, đứa thì chăn bò thuê, cũng có đứa nhập cư sống phấp phỏng vì cha mẹ chạy nợ... Tụi nó được cái lễ lạt sốt sắng lắm. Kinh nguyện đọc theo cộng đoàn, nhờ vậy mà thuộc những kinh căn bản, kể trên đầu ngón tay, theo trật tự “Lạy Cha - Kính Mừng - Sáng Danh - Tin - Cậy - Mến”, không hơn. Trong lớp giáo lý, tụi nó có cái vui vẻ hồn nhiên vì được hòa đồng bình đẳng với chúng bạn ở nhiều hoàn cảnh khác nhau. Nhưng đến khâu học bài khảo bài thì thật ám ảnh. Anh và nhóm giáo lý viên đau đầu với việc học hành “tối tăm” của tụi nhóc này. Các câu Hỏi - Thưa trong sách giáo lý tụi nó học mãi không sao thuộc, đọc vấp lên vấp xuống. Các kinh nguyện nằm ngoài cái “trật tự trên đầu ngón tay” kể trên, thì tụi nó không thể đọc trôi. Phải làm sao bây giờ khi mà điều kiện kinh qua lớp giáo lý vỡ lòng ít nhất cũng phải thuộc ba mươi kinh và cả một quyển sách Hỏi - Thưa kinh điển ? Anh nhiều lần trình bày với cha sở, cũng chỉ nghe khuyên rằng: “Động viên tụi nó học, động viên cả ba mẹ tụi nó hỗ trợ thêm”. Lại khó. Vì cha mẹ tụi nhỏ có cha mẹ trốn nợ, có cha mẹ buôn thúng bán bưng, tối về không nhậu nhẹt gây gỗ là đã may phước, lấy đâu thời gian hỗ trợ cho con cái học giáo lý.

Ảnh minh họa

Cha sở ơi, ngài xem ra quá sách vở và lý thuyết trước cuộc đời rồi!

Rồi khóa giáo lý cũng kết thúc. Những ngày phải rà soát lại danh sách để chọn đứa nào đủ điều kiện rước lễ, xưng tội lần đầu, đứa nào phải rèn luyện thêm một khóa nữa... là những ngày cân não. Đa số những đứa không đủ điều kiện lại rơi vào nhóm trẻ con nghèo hoặc thất học, hoặc có hoàn cảnh riêng đặc biệt. Cả những đứa khá trong lớp, nhưng chỉ sau một thời gian cha mẹ lục đục đưa nhau ra tòa là tụi nhỏ lơ là chuyện học. Đòi hỏi tâm trí trẻ con phải vững vàng như không hề có gì xảy ra trong những hoàn cảnh như thế là một điều quá đáng.

Vậy là cả nhóm giáo lý viên phải họp lại để bàn cách làm sao “loại” ít nhất khỏi danh sách xưng tội và rước lễ lần đầu. Anh là nhóm trưởng, lâu nay tự tin mình đưa ra những quyết định sáng suốt và chính xác. Trong số những đứa phải loại để “đào tạo thêm”, có cả những đứa quậy phá, bất tuân nguyên tắc và dĩ nhiên là không chịu học hành cố gắng gì cả.

Có một trường hợp trong số đó khiến anh về sau suy nghĩ. Một cậu bé trong lớp giáo lý vì “học kinh không vô” mà bị loại khỏi đợt rước lễ xưng tội lần đầu năm ấy của giáo xứ. Cậu bé này về sau bỏ nhà thờ và trở thành một người bất mãn, sống ngông cuồng, lệch lạc. Mỗi khi trở lại xứ cũ, anh vẫn hỏi thăm về cậu (bây giờ là một thanh niên ngang dọc hành tung, không ngán ai cả!) và thường lặng đi khi hỏi làng trên xóm dưới, chỉ nghe những lời ca thán, ngao ngán về cậu. Vẫn biết, có nhiều lý do để một con người trở nên bất cần với mọi thứ và lạc lối, nhưng anh vẫn day dứt nghĩ rằng sự việc ở khóa giáo lý năm ấy có thể là một trong những điều kiện để cuộc đời cậu bé nghèo thất học và có phần cá biệt ấy chuyển sang một hướng cực đoan. Anh nhớ ánh mắt buồn bã sợ hãi lo âu và bất lực của cậu nhìn anh trong những giờ khảo bài giáo lý. Anh nhớ những lời thiệt thà cậu bé nói với anh như giải thích, van xin: “Chú ơi, con thuộc mà không biết sao vô đây quên hết trơn rồi. Chú cho con qua đi. Có học nữa con cũng không thuộc nổi đâu...”. Anh dò đi dò lại dăm lần bảy lượt, cậu vẫn lắp bắp và không sao kết thúc cho được kinh Đức Chúa Thánh Thần.

Anh đành phải đánh một dấu chéo vào cái tên của cậu bé và đó là một dấu chéo mà anh day dứt - một dấu chéo rào cản đối với cuộc đời một con người.

Anh kể tới đây thì thở dài: “Phải chi...”. Tôi an ủi một cách máy móc rằng: “Thôi thì mọi thứ có cái số”. Anh vẫn nói với giọng buồn buồn của một người chưa cất được nỗi ân hận muộn mằn: “Biết là cái số. Nhưng nếu ta thấu hiểu con người hơn, thì có lẽ sẽ ít cầm buộc hơn, và như thế thì có thể Chúa đã đến với người ấy, hướng dẫn cuộc đời con người ấy không rẽ sang một lối khác. Chí ít một lần trong đời, đứa bé nghèo và không có trí óc sáng sủa như những đứa bé khác thì cũng được quyền có Chúa ngự vào lòng...”.

Tôi lại trở về với những lớp giáo lý nơi thành phố. Những lớp giáo lý vui vẻ rộn ràng. Trẻ con đến lớp từ nhiều thành phần gia đình và hoàn cảnh khác nhau. Nhìn chúng thật tinh khôi và sốt sắng. Nhưng biết đâu trong góc khuất tâm hồn của những con chiên non ấy đang có những nỗi niềm riêng cần được thấu hiểu, cảm thông; có biết bao nỗ lực đấu tranh của những người cha, người mẹ với chính bạn đời của để con được đến từng buổi học giáo lý. Giáo lý Kitô giáo phải xuất phát từ một cốt lõi sư phạm lấy thấu hiểu, yêu thương và cảm thông làm trọng tâm, chứ không phải chỉ biết nêu nguyên tắc lạnh lùng máy móc. Lớp giáo lý không thể là một cỗ máy vận hành trên những nguyên tắc thiếu vắng cảm xúc nhân bản, nhân văn. Nhìn rộng hơn, trong khi một hệ thống giáo dục bên ngoài đang chuyển mình đặt người học làm trung tâm và tìm kiếm những phương pháp giáo dục, truyền đạt mới phù hợp với bối cảnh, tâm lý tiếp nhận của người học, thì cần phải đặt lại câu hỏi: tại sao sư phạm giáo lý vẫn mãi mãi là những bài học thuộc lòng, những cách khảo bài đầy áp lực và nặng nề nguyên tắc?

Anh giáo lý viên nói thêm sau câu chuyện đầy day dứt rằng: “Chẳng phải niềm vui của chúng ta là bằng mọi cách để mang Chúa đến với con người, nhất là những người yếu thế và dễ bị tổn thương trong cuộc đời này hay sao?”.

Tùy bút của NGUYỄN VĨNH NGUYÊN

[Trích từ bản thảo Ngang qua Vườn Cây Dầu]

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Hơn năm mươi năm trước, có một chú bé thường sang xưởng vẽ gần nhà, say sưa ngắm nhìn các tranh vẽ về nhà thờ, về Chúa Giêsu… Nét vẽ đã tạo nên dấu ấn thánh thiện ngay từ năm tháng đó, thật bất ngờ, chú bé ấy về sau...
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
“Thời gian không phải là vàng. Thời gian quý hơn vàng, vì thời gian không bao giờ trở lại. Chính xác như Gimiko” là câu quảng cáo kèm tiếng ngựa hí vang từng xuất hiện với tần suất dày trên các kênh truyền hình vào những khung giờ vàng, đã...
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Ở Sài Gòn, không khó để bắt gặp những lớp học cưỡi ngựa hay các trang trại có dịch vụ chụp ảnh cùng ngựa.
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Hơn năm mươi năm trước, có một chú bé thường sang xưởng vẽ gần nhà, say sưa ngắm nhìn các tranh vẽ về nhà thờ, về Chúa Giêsu… Nét vẽ đã tạo nên dấu ấn thánh thiện ngay từ năm tháng đó, thật bất ngờ, chú bé ấy về sau...
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
“Thời gian không phải là vàng. Thời gian quý hơn vàng, vì thời gian không bao giờ trở lại. Chính xác như Gimiko” là câu quảng cáo kèm tiếng ngựa hí vang từng xuất hiện với tần suất dày trên các kênh truyền hình vào những khung giờ vàng, đã...
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Ở Sài Gòn, không khó để bắt gặp những lớp học cưỡi ngựa hay các trang trại có dịch vụ chụp ảnh cùng ngựa.
Đua ngựa ở Sài Gòn qua những dòng ký ức
Đua ngựa ở Sài Gòn qua những dòng ký ức
Môn đua ngựa chuyên nghiệp đã qua thời vàng son từ lâu. Ngựa đua đã tháo vó, nài ngựa đã thu roi, nhưng mỗi khi đi ngang khu vực trường đua Phú Thọ xưa, người hoài cổ vẫn thấy chút nao nao.
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Ở Trung Hoa, kỳ thư Liêu Trai Chí Dị 聊齋誌異 được Bồ Tùng Linh 蒲松齡 (1640-1715) sáng tác trong khoảng hơn bốn mươi năm, từ cuối đời Minh (1368-1644) sang đầu đời Thanh (1644-1912).
Rượu Việt trong cảm thức người phương Tây xưa
Rượu Việt trong cảm thức người phương Tây xưa
Nền văn hóa ẩm thực của dân Việt, tự cổ chí kim, dù có những thay đổi, nhưng tìm hiểu căn cốt, vẫn có những mẫu số chung bất biến. Hãy nhìn xem, trong mâm cơm người Việt, bát nước mắm nào có thể thiếu, và công thức cơm -...
“Chợ Tết Bắc”  giữa lòng đô thị phương Nam
“Chợ Tết Bắc” giữa lòng đô thị phương Nam
Sài Gòn có những góc phố, phiên chợ đượm hương Tết của vùng Bắc Bộ xưa. Vùng Ông Tạ cùng sắc xanh lá dong, xôi đỗ, chè Thái Nguyên; chợ Xóm Mới với mùi thơm nồng nàn của giò chả, măng miến... Những phiên chợ đậm nét văn hóa như...
Dải hoa vàng nối hai miền quê
Dải hoa vàng nối hai miền quê
Tôi trung niên và rồi đến lúc cũng phải già đi. Có thể cảm xúc rộn ràng với Tết nhất sẽ dần lùi sâu vào bên trong. Nhưng trong đất trời hoa vàng vẫn hẹn về lộng lẫy.
Nghề chùi lư và sự kết nối tổ tiên
Nghề chùi lư và sự kết nối tổ tiên
Khi tháng Chạp về, kéo theo những tất bật quen thuộc của chuỗi ngày cuối năm Âm lịch. Đường sá bắt đầu thay áo bởi sắc vàng của cúc, của mai, điểm thêm chút đỏ của dây pháo, của những tấm liễn treo kín trước cửa tiệm.