Hai chữ “cang thường” trong ca dao

1.

Tháng 6 năm 1941, tại Hà Nội, nhà giáo Dương Quảng Hàm (1898-1946) soạn xong Việt Nam Văn Học Sử Yếu. Theo bản in lần đầu (Hà Nội, 1943), trong Chương 1 (Văn chương truyền khẩu), Thiên thứ nhất (Văn chương bình dân), Chương thứ nhất (Văn chương truyền khẩu), tiểu mục 2 (Ca dao), soạn giả định nghĩa:

“Ca dao (ca: hát; dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình phong tục của người bình dân. Bởi thế ca dao cũng gọi là phong dao (phong: phong tục) nữa. Ca dao cũng như tục ngữ, không biết tác giả là ai; chắc lúc ban đầu cũng do một người vì có cảm xúc mà làm nên, rồi người sau nhớ lấy mà truyền tụng mãi đến bây giờ.”

Văn Học Tạp Chí, số 2 (Hà Nội, tháng 6-1932, tr. 19-25) đăng bài “Việc dùng điển trong thơ văn” của Hải Lượng (tức Dương Quảng Hàm), trong đó có viết “những bài ca dao hay đủ sánh được với các bài thơ trong Kinh Thi”. Đây là một câu nói để đời của thầy Dương, vì phần lớn các từ điển tiếng Việt đều dẫn câu này làm ví dụ minh họa cho lời giảng về mục từ “ca dao”.

2.

Từ lâu đời xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của đạo Nho, thế nên ca dao Việt Nam có nhiều câu tình tứ (lãng mạn) thể hiện tình yêu trai gái, đạo nghĩa vợ chồng gắn liền với khuôn thước luân lý đạo Nho, cụ thể là “tam cang ngũ thường”, nói tắt là “cang thường” (cương thường).

Tuy nhiên, ca dao hay dùng hai chữ “cang thường” theo nghĩa hẹp là “phu thê cang” với ý nghĩa là đạo nghĩa vợ chồng. Chẳng hạn:

- Anh có vợ chưa, phân lại cho tường
Để em vô phá đạo cang thường sao nên.

- Anh nói với em mía ngọt hơn đường
Bây giờ nghĩ lại, điệu cang thường xảo ngôn.

- Anh tìm con bướm có xương
Dây tơ hồng có rễ, đạo cang thường em ưng anh.

- Chừng nào cầu quây nọ thôi quây ([1])
Thì qua với bậu mới dứt dây cang thường.

- Chừng nào ớt ngọt như đường
Khổ qua hết đắng, cang thường hết thương

- Có đôi chưa nói lại tôi tường
Để tôi vô phá đạo cang thường không nên.

- Cũng nhờ đôi bác đôi bên
Mỗi người mỗi tiếng mới nên cang thường.

- Dang tay khoát bạn: Khoan thương!
Ta không phải nghĩa cang thường với bạn đâu.

- Đàng đi biết mấy dặm trường
Hỏi em đã kết cang thường đâu chưa?

- Đạo cang thường khó lắm bậu ơi
Không như ong bướm đậu rồi lại bay.

- Đạo cang thường không phải như cá tôm
Đang mua mớ nọ lại chồm mớ kia.

- Đạo nào thương bằng đạo cang thường
Chồng mà xa vợ đoạn trường, Trời ơi!

- Đêm nằm thổn thức vào ra
Chờ cha mẹ ngủ, lén qua thăm mình
Tui than hết sức, tui dứt hết tình
Thiếu điều cắn ruột trao cho mình, mình ơi!
Dẫu mà chẳng được kết đôi
Một lần này nữa xin thôi cang thường
Nhu thắng cang, nhược thắng cường
Tui ở mềm như chuối, đạo cang thường còn xa.

- Đi qua lò mía thơm đường
Muốn vô kết nghĩa cang thường với ai.

- Làm người phải biết cang thường
Xem trong ba mối, quân vương đứng đầu.([2]).

- Làm sao cho ớt ngọt như đường
Khổ qua hết đắng, dạ cang thường mới hết thương.

- Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay

Đạo cang thường chớ đổi đừng thay
Dẫu nên danh vọng hay rủi ăn mày ta cũng theo nhau.

- Qua không ham rộng ruộng lớn vườn
Ham vì nhơn ngãi, cang thường mà thôi.

3.

Trong ca dao, có khi nói “ba giềng” và “năm hằng” thay vì “tam cang ngũ thường” hay “cang thường”. Chẳng hạn:

- Làm trai giữ trọn ba giềng
Thảo cha, ngay chúa, vợ hiền chớ vong.

- Làm trai học đạo thánh hiền
Năm hằng chẳng trễ, ba giềng chớ sai.



1 Cầu quay (giọng Nam Kỳ đọc là “quây”) được làm năm 1904, bắc qua rạch Bến Nghé. Người Pháp gọi nó là “le pont tournant” vì nhịp giữa có thể quay ngang để nằm xuôi theo chiều dòng rạch, chừa lối cho tàu buôn qua lại (điều khiển bằng máy điện vào một giờ quy định; có sách nói là lúc mười hai giờ trưa). Vào khoảng thập niên 1940, cầu được cố định (không còn quay nữa) để đặt thêm đường sắt chạy trên cầu. Khoảng giữa thập niên 1950, cầu quay bị phá bỏ để làm cầu bê-tông, gọi là cầu Khánh Hội. Xem ảnh đính kèm.

2 “Ba mối” là “tam cang” với “quân thần cang” đứng đầu; kế tiếp là “phụ tử cang” và “phu phụ cang” (phu thê cang).

HUỆ KHẢI

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Hơn năm mươi năm trước, có một chú bé thường sang xưởng vẽ gần nhà, say sưa ngắm nhìn các tranh vẽ về nhà thờ, về Chúa Giêsu… Nét vẽ đã tạo nên dấu ấn thánh thiện ngay từ năm tháng đó, thật bất ngờ, chú bé ấy về sau...
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
“Thời gian không phải là vàng. Thời gian quý hơn vàng, vì thời gian không bao giờ trở lại. Chính xác như Gimiko” là câu quảng cáo kèm tiếng ngựa hí vang từng xuất hiện với tần suất dày trên các kênh truyền hình vào những khung giờ vàng, đã...
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Ở Sài Gòn, không khó để bắt gặp những lớp học cưỡi ngựa hay các trang trại có dịch vụ chụp ảnh cùng ngựa.
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Hơn năm mươi năm trước, có một chú bé thường sang xưởng vẽ gần nhà, say sưa ngắm nhìn các tranh vẽ về nhà thờ, về Chúa Giêsu… Nét vẽ đã tạo nên dấu ấn thánh thiện ngay từ năm tháng đó, thật bất ngờ, chú bé ấy về sau...
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
“Thời gian không phải là vàng. Thời gian quý hơn vàng, vì thời gian không bao giờ trở lại. Chính xác như Gimiko” là câu quảng cáo kèm tiếng ngựa hí vang từng xuất hiện với tần suất dày trên các kênh truyền hình vào những khung giờ vàng, đã...
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Ở Sài Gòn, không khó để bắt gặp những lớp học cưỡi ngựa hay các trang trại có dịch vụ chụp ảnh cùng ngựa.
Đua ngựa ở Sài Gòn qua những dòng ký ức
Đua ngựa ở Sài Gòn qua những dòng ký ức
Môn đua ngựa chuyên nghiệp đã qua thời vàng son từ lâu. Ngựa đua đã tháo vó, nài ngựa đã thu roi, nhưng mỗi khi đi ngang khu vực trường đua Phú Thọ xưa, người hoài cổ vẫn thấy chút nao nao.
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Ở Trung Hoa, kỳ thư Liêu Trai Chí Dị 聊齋誌異 được Bồ Tùng Linh 蒲松齡 (1640-1715) sáng tác trong khoảng hơn bốn mươi năm, từ cuối đời Minh (1368-1644) sang đầu đời Thanh (1644-1912).
Rượu Việt trong cảm thức người phương Tây xưa
Rượu Việt trong cảm thức người phương Tây xưa
Nền văn hóa ẩm thực của dân Việt, tự cổ chí kim, dù có những thay đổi, nhưng tìm hiểu căn cốt, vẫn có những mẫu số chung bất biến. Hãy nhìn xem, trong mâm cơm người Việt, bát nước mắm nào có thể thiếu, và công thức cơm -...
“Chợ Tết Bắc”  giữa lòng đô thị phương Nam
“Chợ Tết Bắc” giữa lòng đô thị phương Nam
Sài Gòn có những góc phố, phiên chợ đượm hương Tết của vùng Bắc Bộ xưa. Vùng Ông Tạ cùng sắc xanh lá dong, xôi đỗ, chè Thái Nguyên; chợ Xóm Mới với mùi thơm nồng nàn của giò chả, măng miến... Những phiên chợ đậm nét văn hóa như...
Dải hoa vàng nối hai miền quê
Dải hoa vàng nối hai miền quê
Tôi trung niên và rồi đến lúc cũng phải già đi. Có thể cảm xúc rộn ràng với Tết nhất sẽ dần lùi sâu vào bên trong. Nhưng trong đất trời hoa vàng vẫn hẹn về lộng lẫy.
Nghề chùi lư và sự kết nối tổ tiên
Nghề chùi lư và sự kết nối tổ tiên
Khi tháng Chạp về, kéo theo những tất bật quen thuộc của chuỗi ngày cuối năm Âm lịch. Đường sá bắt đầu thay áo bởi sắc vàng của cúc, của mai, điểm thêm chút đỏ của dây pháo, của những tấm liễn treo kín trước cửa tiệm.