Hệ thống tổ chức Giáo hội của Công giáo ở Việt Nam (P19)

CÔNG GIÁO VỚI VĂN HÓA VIỆT NAM

Cho đến trước Công đồng Vatican II (1962-1965), nhìn từ góc độ quan phương, tiến trình truyền bá Công giáo vào Việt Nam là tiến trình du nhập cứng nhắc và áp đặt văn hóa Công giáo ở Việt Nam. Vậy phải chăng Công giáo với văn hóa Việt Nam chỉ là sự đối lập, là xóa bỏ văn hóa truyền thống Việt Nam ?

Đã có những công trình nghiên cứu chỉ ra những đóng góp của Công giáo với văn hóa Việt Nam trên các phương diện như đóng góp hình thành nên chữ Quốc ngữ; một lối sống đạo Công giáo được hình thành với những biểu hiện đặc thù, đóng góp vào lối sống của người Việt. Một trong những đóng góp của Công giáo với văn hóa Việt Nam phải kể đến đó là đóng góp trên phương diện văn hóa vật chất với các cơ sở thờ tự, trong đó có những giáo đường hay quần thể giáo đường đặc sắc, là hệ thống tranh tượng nơi nhà thờ Công giáo giàu tính biểu tượng và mỹ thuật.

Đề cập đến Công giáo với văn hóa Việt Nam, chúng tôi tiếp cận dưới chiều cạnh hội nhập. Qua đó hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp người đọc nhận ra những đóng góp của Công giáo với văn hóa Việt Nam. Công giáo với văn hóa Việt Nam biểu hiện qua hai giai đoạn rõ rệt: Giai đoạn từ buổi đầu truyền giáo đến trước Công đồng Vatican II; và giai đoạn từ Công đồng Vatican II đến nay.

Công giáo với văn hóa Việt Nam từ buổi đầutruyền giáo đến trướcCông đồng Vatican II

Công giáo với văn hóa Việt Nam - những biểu hiện của sự xung đột

Phần nội dung này chúng tôi đề cập đến một số văn bản của Giáo hội Công giáo về nhãn quan đối với văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam như là những “chứng từ” để làm sáng tỏ thêm nguyên nhân sự xung đột văn hóa Công giáo với văn hóa Việt Nam.

Năm 1659, khi thiết lập hai giáo phận Tông tòa Đàng Trong và Đàng Ngoài, cử hai vị giám mục là François Pallu và Lambert de la Motte sang cai quản, Tòa Thánh đã dặn dò họ 4 điểm chính qua bản Huấn thị 1659. Một trong 4 điểm chính đó là: Tôn trọng các nền văn minh và phong tục địa phương[1]. Dầu vậy, trong quá trình truyền giáo, đã xảy ra một số xung đột văn hóa Kitô giáo với văn hóa Việt Nam. Điều này được thể hiện qua những Thư chung của các giám mục thuộc dòng Đa Minh (cai quản các giáo phận Đông) và các giám mục thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP). Các Thư chung của hai dòng truyền giáo về sau được chọn lọc in thành sách. Với các giáo phận Đông là: Những thư chọn trong các Thư chung các đấng Vicariô Apôstôlicô và Vicariô Provinciale về dòng Ông Thánh Dumingô[2] đã làm tự năm 1759 (quyển 1 và quyển 2), in tại Kẻ Sặt, 1903. Với Hội Thừa sai Paris là Sách thuật lại các Thư chung địa phận Tây Đàng Ngoài, in tại Kẻ Sở, 1908.

Những Thư chung được tuyển chọn cho đến thời điểm in ấn, phát hành (đầu thế kỷ XX) của dòng Đa Minh cũng như Hội Thừa sai Paris có nội dung chủ yếu xoay quanh những vấn đề thực hiện tín lý, giáo lý của Giáo hội Công giáo, trong đó có phần vận dụng vào đời sống đạo của Công giáo Việt Nam. Trong số các Thư chung có một số Thư chung bàn về “Sự rối nước Annam” với nội dung cấm các tín hữu thực hiện niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng cũng như phong tục, tập quán truyền thống của người Việt. Để thấy rõ điều này, chúng tôi trích dẫn hai Thư chung, một của dòng Đa Minh, một của Hội Thừa sai Paris.

Về dòng Đa Minh, chúng tôi chọn Thư chung với tựa đề: Pater Lui Huy, dòng Ông Thánh Domingô Prôvicario Apostolico địa phận bên Đông trong nước Annam, làm tại Trà Lũ ngày 7 tháng 5 năm Kỷ Mão (1759). Thư chung này chúng tôi đặt tên là Thư chung thứ nhất.

Với Hội Thừa sai Paris - MEP (địa phận Tây Đàng Ngoài), chúng tôi chọn Thư chung với tựa đề: Về các việc dối trá do Đức Giám mục Phêrô Maria Đông làm tại Hà Nội, ngày 8 tháng 5 năm 1905. Thư chung này chúng tôi đặt tên là Thư chung thứ hai.

Thư chung thứ nhất

Thư chung “Nói về 36 sự rối nước Annam[3] Đức Thánh Phapha[4] đoán phi”. Dưới đây là tóm tắt 36 sự rối:

1- Đức Thánh Pha pha lấy mọi sự kẻ vô đạo[5] quen làm mà thờ kẻ chết là sự dối trá hết. Bổn đạo cứ phép Thánh Yghêrixa[6] mà đưa xác kẻ có đạo.

2- Bổn đạo cất xác không được để vô đạo đến làm một, hoặc đến, chẳng can được, thì phải cắt nghĩa phép đạo phải làm thế nào.

3- Chẳng có lẽ gì bổn đạo được ở làm một mà ăn uống của tế, dù ở nơi khác tế, dù ăn của chẳng tế mặc lòng.

4- Ở nơi tế chưa tiêu của tế, dù ai cho ăn của gì, không nên ăn gì, bằng khi tế đoạn cùng đã tiêu của tế, dù của đã tế, thì ăn được, song phải phân phô cho người ta tin, chẳng chuộng của tế hơn của khác.

5- Vô đạo đã tế của ăn mà chưa tiêu đó thì dù của tế, dù chưa tế mang đi nơi khác chẳng nên ăn.

6- Cấm lạy xác kẻ chết, dù để tượng chịu nạn đấy, khóc thói vô đạo cũng cấm.

7- Xông hương, đốt nến cho kẻ chết, khi không làm việc Thánh Yghêrixa định như Thầy cả đi đưa xác. Nguyện mồ hay là bổn đạo hợp nhau đọc kinh, có câu rút[7] tượng chịu nạn trống trải mới được.

8- Các đồ lễ vô đạo lấy mà thờ kẻ chết thì cấm cả, như áo trảm, mũ, gậy,... và cấm đồ lễ trong sách Gia lễ nữa.

9- Cấm đọc văn tế cùng cắt tóc tang.

10- Liệm xác đàn ông 7 lần, đàn bà 9 lần, cùng đại, tiểu liệm thì cũng cấm cả.

11- Cất xác chẳng nên kiệu ảnh, tượng, câu rút, một cầm thánh giá câu rút trong tay đi trước như thói bổn đạo thôi.

12- Bổn đạo chẳng nên lạy Mình thánh tượng Đ.C.J[8] mà lạy xác kẻ chết.

13- Khi phải làm cỗ bàn chẳng nên đặt cỗ ra thứ tự như vô đạo, có ai mời quan viên tế cỗ, thì xưng ra sự rối.

14- Cấm làm rạp có ý làm sự rối, chẳng tế trong ấy, chẳng nên hợp một ý với kẻ tế cùng góp đồ gì trong rạp ấy.

15- Để riêng một nhà tổ mà cầu nguyện cho kẻ chết chẳng có được.

16- Góp tiền gạo về việc dối, dù trước sau việc ấy, giúp công, ra tiền trả đồ trả công kẻ làm sự rối thì cấm cả.

17- Không ra tiền của vô đạo thu làm sự rối có ý để bắt, sau lại ra tiền chuộc đồ cũng chẳng nên.

18- Khi ta sợ vô đạo làm khốn, thì chuốc cho kẻ có đạo đưa đồ đến nhà vô đạo khi đã tế đoạn, hoặc đưa trước thì phải để xa mà giữ kẻo tế của ta.

19- Kẻ vô đạo có ý làm sự rối, chẳng nên cho mượn đĩa, bát, mân và đồ khác đựng của tế.

20- Kẻ có đạo trốn đi cho khỏi góp tiền làm sự rối mà quan viên bắt trả công cho kẻ đỡ mình vào việc rốì, thì phải thà chết, chẳng thà trả công, có một quan viên có ý phạt nó thì chịu thiệt thòi ấy vậy.

21- Thí dụ người phải làm cỗ bàn nhiều mà tế con trâu, con lợn chửa con nào giết, thì con cái, con ở, còn chăn gửi được; bằng đã chỉ, thì chẳng nên chăn, coi sóc.

22- Khi chúa nhà có ý tế lễ bên rối, thì vợ, con cái, con ở, cũng nên mua sắm đồ ăn như thường, song có phải mua khác quen hay nấu đồ hơn vì việc rối chẳng nên.

23- Kẻ có đạo cùng kẻ không góp tiền chung mua lợn, dù vô đạo chỉ lấy đầu lợn mà tế, còn bao nhiêu thì cho, cũng không được, có lấy tiền kẻ có đạo mua đầu lợn không, hay là thịt khác thì mặc, vì chẳng có ý tế.

24- Bao giờ kẻ có đạo phải làm cỗ cho cả làng, thì đừng mà cả với kẻ vô đạo rằng: sau khi có việc giỗ chạp sẽ giả, vì không nên; vay tiền làm gì, rồi giả tiền ấy thôi.

25- Cất xác người chết chẳng làm sự rối, thì không cấm đánh trống, lệnh, thổi kèn.

26- Đi đưa khiêng xác kẻ chết là sự thường người ta; song đừng khiêng, khi có hơi sự dối trá trước mặt hay là săng vào nhà tang thì cũng chẳng nên khiêng xác ấy.

27- Người vô đạo làm chay, hát, đánh vật, thờ thần, kéo hội, v.v... bổn đạo không nên xem, có sinh sự, buồn giận, ghét nhau vì chẳng ra mặt đấy không mà chẳng giúp vướng gì cũng chẳng lấy sự làm phải, bấy giờ phân phô thì Đức Thánh Phapha chuốc cho.

28- Người ta làm sự rối trọng thể, sức các xóm, thôn, xã, phải chỉ người đi, thì người ấy phải thà chết, chẳng thà đi việc ấy.

29- Cả làng phải làm việc rối, thì chỉ bốn, năm người đi trong một năm làm việc ấy một lần, mà cả rằng: sau không phải làm nữa, thì những kẻ ấy trót làm, lấy lòng thật mà ăn năn tội ấy và phân phô phá lời giao ấy mới được xưng tội, chịu lễ.

30- Chẳng có được cậy kẻ khác gánh việc rối thay mình, ai đã cho ruộng gánh việc ấy thì phải lấy về cùng phân phô với kẻ ấy, kẻo còn giúp của mà làm việc rối.

32- Học trò, đầy tớ, những ngày tết, mồng năm đến cúng thầy hay là chúa nhà thì lạy ở nơi khác bàn thờ tiên sư, ông bà ông vải mới nên. Còn của cải gì cho thầy, chúa nhà khi biết người ấy sẽ lấy mà tế, thì mắc rối, nếu có phải học ông khóa vô đạo thì có chuốc cho mình các sự rối mới nên chớ.

33- Bổn đạo bắt chước kẻ ngoại đạo giẫy mà, cải táng chỗ nọ, chỗ kia để được may, gặp sự lành là sự rối.

34- Xác kẻ chết cất cho sớm, chẳng để lâu như vô đạo quen.

35- Hoặc có ai làm sự rối về kẻ chết, thì bổn đạo đừng hợp đấy, một đến nhà thờ cầu nguyện cả.

36- Bổn đạo phải tìm thế cho khỏi sự rối, như tiền của xin quan viên, trưởng nam, có phép tha, thì đừng ra tiền. Còn nhà trưởng có đạo, mà vô đạo đến làm sự rối chẳng can được, thì đừng cho đồ lễ gì giúp về việc ấy.

Cho bổn đạo được nhớ cùng bấy nhiêu sự, thì kẻ giữ nhà thờ phải làm sao lấy một người một bản, mà sao trong nhà thờ một năm hai lần ngày lễ đầu mùa Adveto[9] và ngày lễ ném đá mùa chay.

Trên đây là Thư chung nói về 36 sự rối của dòng Đa Minh.

1 Linh mục Phêrô Nguyễn Thanh Tùng: Lịch sử thành lập Hàng giáo phẩm Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2010, tr 294-295.

2 Dòng Thánh Đa Minh được Rôma giao cho cai quản các địa phận bên Đông từ năm 1679 gồm các giáo phận: Bùi Chu, Thái Bình, Hải Phòng, Bắc Ninh, Lạng Sơn sau này.

3 Nước Annam: Tên gọi miệt thị nước Việt Nam.

4 Đức Thánh Phapha: Giáo hoàng La Mã.

5 Thời bấy giờ Công giáo ở Việt Nam coi những người không phải tín đồ Công giáo là vô đạo.

6 Yghêrixa: Hội Thánh Công giáo Rôma.

7 Câu rút: Thập giá, cũng được gọi là thánh giá.

8 Đ.C.J: Đức Chúa Giêsu.

9 Mùa Avento: Mùa vọng, theo quan niệm Công giáo đây là mùa tín hữu Công giáo trông chờ Chúa Giêsu xuống thế làm người.

PGS.TS Nguyễn Hồng Dương



Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Thêm chính sách giúp người lao động  cải thiện lương hưu
Thêm chính sách giúp người lao động cải thiện lương hưu
Từ ngày 10.5, Nghị định số 85/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung tự nguyện nhằm hình thành một kênh tích lũy dài hạn cho người lao động, bên cạnh chế độ BHXH hiện hành.
Góp nhặt những câu chuyện lịch sử
Góp nhặt những câu chuyện lịch sử
Phần phụ lục (trang 110-135) trong quyển tự điển Dictionarium Latino - Anamiticum của Đức cha Jean Louis Taberd, xuất bản năm 1838 tại Ấn Độ có in bài vãn về cuộc tử đạo của bà Inê/Anê Huỳnh Thị Thanh, em gái cha Laurent, quê Chợ Mới, Nha Trang.
Từ cướp biển thành nông dân
Từ cướp biển thành nông dân
Trước xu thế thời cuộc, việc nghiêm túc thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ vẫn được đẩy mạnh, chấm dứt việc xài “chùa” và làm “cướp biển” của đông đảo dân mạng.
Thêm chính sách giúp người lao động  cải thiện lương hưu
Thêm chính sách giúp người lao động cải thiện lương hưu
Từ ngày 10.5, Nghị định số 85/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung tự nguyện nhằm hình thành một kênh tích lũy dài hạn cho người lao động, bên cạnh chế độ BHXH hiện hành.
Góp nhặt những câu chuyện lịch sử
Góp nhặt những câu chuyện lịch sử
Phần phụ lục (trang 110-135) trong quyển tự điển Dictionarium Latino - Anamiticum của Đức cha Jean Louis Taberd, xuất bản năm 1838 tại Ấn Độ có in bài vãn về cuộc tử đạo của bà Inê/Anê Huỳnh Thị Thanh, em gái cha Laurent, quê Chợ Mới, Nha Trang.
Từ cướp biển thành nông dân
Từ cướp biển thành nông dân
Trước xu thế thời cuộc, việc nghiêm túc thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ vẫn được đẩy mạnh, chấm dứt việc xài “chùa” và làm “cướp biển” của đông đảo dân mạng.
Điểm tựa tuổi già  nơi giáo xứ
Điểm tựa tuổi già nơi giáo xứ
Giáo xứ có thể làm gì để những năm tháng xế chiều của người cao tuổi trở nên ý nghĩa, và tràn đầy tiếng cười? Thông qua các góc nhìn từ mục vụ, y tế và tâm lý dưới đây, sẽ thấy rằng đôi khi chỉ cần một tủ sách...
Xóm nghề biến lục bình thành sinh kế
Xóm nghề biến lục bình thành sinh kế
Dọc theo những con kênh ở miền Tây Nam Bộ, lục bình từ lâu đã trở thành một phần rất đỗi quen thuộc. Từ loài thực vật trôi nổi ven sông, ít nhiều góp phần gây ô nhiễm do cản dòng chảy của nước, người dân đã khéo léo biến...
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội (p2)
Vị trí Dinh Trấn Biên Phú Yên, nơi Anrê Phú Yên được rửa tội (p2)
“Khúc sông bên lở, bên bồi” là quy luật của thiên nhiên. Dòng chảy sông Cái bị thiên nhiên bồi lấp tại bãi cát thôn Hội Tín, giáp ranh thôn Hội Phú, đoạn liền kề nghĩa trang giáo xứ Mằng Lăng ngày nay.
Bình an nơi tâm hồn
Bình an nơi tâm hồn
Có những lời thầm thì hóa thành bình an. Việc nhìn nhận những thiếu sót chính là khoảnh khắc lòng can đảm hiện diện rõ nét để bắt đầu hành trình hoàn thiện bản thân.
Tiếng xao động trên tàu dừa
Tiếng xao động trên tàu dừa
Có những chuyến đi không nhằm tìm kiếm điều gì cụ thể, chỉ đơn giản là để lòng mình được lắng lại. Tôi đến miền Tây trong những ngày cần một khoảng yên đủ rộng để nghe rõ hơn tiếng nói bên trong mình.
Chọn ở quê hay thành phố cho tuổi già an yên
Chọn ở quê hay thành phố cho tuổi già an yên
Câu hỏi “về già nên sống ở quê hay thành phố” tưởng chừng đơn giản nhưng lại là nỗi trăn trở của nhiều gia đình hôm nay. Khi tuổi trẻ gắn với những cuộc mưu sinh nơi đô thị, thì tuổi già người ta lại có xu hướng chọn sự...