Hệ thống tổ chức Giáo hội của Công giáo ở Việt Nam (P33)

Công giáo với văn hóa Việt Nam từ năm 1975 đến nay

Những kết quả đạt được

Có lẽ kết quả đạt được lớn nhất của Giáo hội Công giáo Việt Nam từ sau Công đồng Vatican II, đặc biệt từ sau Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam, là vấn đề hội nhập văn hóa. Kết quả đó trước hết phải kể đến là việc Tôn kính tổ tiên của người Công giáo. Hiện tại, hầu hết các gia đình Công giáo dưới các hình thức khác nhau đều thực hành tôn kính tổ tiên. Một số dòng họ lập gia phả (ví dụ họ Lại ở giáo xứ Cồn Thoi, Kim Sơn, Ninh Bình), phần lớn các họ tộc đều tìm về tổ gốc như tìm về nguồn cội sau bao nhiêu năm xao nhãng. Vì vậy mà ở làng giáo - xứ đạo có dòng họ khuyến học, đều chỉ có sau Công đồng Vatican II. Có dòng họ xây từ đường như dòng họ Phạm Quang ở thôn Phù Tải (nay là thôn Giải Tây, xã An Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam). Đây là dòng họ toàn tòng Công giáo. Dòng họ có quỹ khuyến học, khuyến tài. Đặc biệt dòng họ xây dựng từ đường họ tộc. Đó là một ngôi nhà 4 gian. Chính giữa từ đường là bàn thờ tổ tiên, trên cao bên phải là bàn thờ Đức Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria. Để có ngôi từ đường, những người con của dòng họ phải chịu nhiều áp lực. Nhưng may thay dòng họ được sự ủng hộ của linh mục chánh xứ. Ngày giỗ họ tộc có đọc kinh, cầu nguyện, sau đó đến nghi thức giỗ họ. Dòng họ gia nhập vào ngôi nhà chung của họ Phạm.[1]

Giáo xứ Kẻ Sặt, GP Xuân Lộc diễn tuồng thương khó năm 2019

Nhưng ý nghĩa bao trùm hơn hết, việc người Công giáo được phép tôn kính tổ tiên xua đi nỗi niềm ám ảnh hàng trăm năm về chuyện bị người ngoại đạo coi là bất hiếu “Ông cha không thờ”. Được tôn kính tổ tiên, người Công giáo có điều kiện hơn truy tư nguồn cội, chăm sóc phụng dưỡng mẹ cha, lúc về già, lo an táng chu đáo khi họ qua đời. Ngày giỗ tổ tiên còn là dịp củng cố gia đình, gia tộc, nhắc nhở con cháu thực hành hiếu đạo. Mỗi người Công giáo khi thắp hương tôn kính tổ tiên hẳn trong lòng họ thấy thanh thản, thấy mình được “trở về” với tâm hồn Việt.

Được chuẩn nhận, khích lệ từ phía giáo quyền nhiều nội dung của hội nhập văn hóa trước Công đồng Vatican II chỉ được xem là tự phát, một số nội dung do những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau có nguy cơ bị mai một nay có dịp được phục hồi như đọc sách, hát kinh lễ, ngắm nguyện. Diễn xướng trong Tuần Thánh, trong dịp lễ Thánh Quan thầy được tổ chức rầm rộ. Đã có thêm những hình thức diễn xướng mới. Tháng Hoa với nghi thức dâng hoa, một nét đẹp trong hội nhập văn hóa không chỉ được khôi phục mà không ít giáo xứ còn sáng tạo ra những điệu múa, lời ca mới làm phong phú thêm hình thức này. Một số lễ hội Công giáo thời hiện đại nhưng vẫn đượm nét dân gian sâu lắng tâm hồn Việt như lễ hội La Vang hằng năm, nhất là năm chẵn, ở đó có kiệu vàng, lọng, cờ ngũ sắc, trang phục dân tộc, rồi được tấu nhạc nhã cung đình... Tất cả làm cho người tham dự sống trong một bầu khí linh thiêng Việt chứ không phải bầu khí Tây Âu. Cũng thấy những nét đẹp hội nhập như trên trong một số đại lễ mừng những sự kiện lớn của Giáo hội Công giáo hay những sự kiện lớn của các giáo phận, như lễ khai mạc Năm Thánh 2010 tại Sở Kiện, Kiện Khê, Hà Nam là một ví dụ.

Người Công giáo kịp bảo vệ những ngôi nhà thờ Nam, tiêu biểu là nhà thờ lớn Phát Diệm (Kim Sơn, Ninh Bình), bảo vệ chuông Nam, bảo vệ kiệu vàng và những đồ tế tự. Đồng thời không ít giáo xứ đóng mới những cỗ kiệu theo kiệu cổ, sơn son thếp vàng.

Trong thánh lễ thấy có trống, chiêng khởi tấu khi linh mục chủ tế làm lễ, truyền phép bánh và rượu. Bên dưới bàn thờ Chúa là bát hương, những lễ trọng có dâng hương. Mùi hương trầm lan tỏa cùng với âm vang chiêng, trống và những bản thánh ca được soạn từ tiết tấu âm nhạc dân ca làm cho không ít thánh lễ mang được dân tộc tính đến mức tối đa.

Những hoạt động tôn kính các thánh, trong đó có Đức Mẹ Maria, Thánh tử đạo... diễn ra đa dạng ở mỗi người tín hữu trong cộng đồng giáo họ, giáo xứ, giáo phận, giáo tỉnh… Không chỉ người Kinh có hình tượng Đức Mẹ theo hình hài của mình mà người Tày (Lạng Sơn), người Chăm (Bình Thuận, Ninh Thuận), người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên (giáo phận Kon Tum) cũng có hình tượng Đức Mẹ với gương mặt, trang phục của dân tộc họ. Và vì vậy người dân tộc thiểu số ở một số dân tộc có Đức Mẹ của riêng mình. Một hình ảnh thân thương, gần gũi để rồi họ tìm đến với Mẹ cầu xin che chở, cứu giúp, sinh nở, mặc dù Đức Mẹ và các thánh theo tín lý Công giáo chỉ là người “cầu bầu”, nghĩa là chuyển tiếp lời cầu của tín hữu đến Thiên Chúa.

Với tinh thần hội nhập, ngày nay người Công giáo Việt Nam cứ đến dịp 10.3 Âm lịch lại cùng với người Việt các tôn giáo khác trảy về Đền Hùng, nơi đất tổ, chiêm bái Vua Hùng, thực hành quốc giỗ. Người Công giáo tham dự hội làng, hội vùng, hành hương đến các di tích. Người Công giáo tham dự chèo hát tự do, chẳng những thế có người còn tham gia vào đội văn nghệ của thôn, xã giữ gìn những làn điệu dân ca truyền thống để rồi trao truyền cho thế hệ sau. Người Công giáo tham dự các lễ tưởng niệm các anh hùng dân tộc như Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung và các anh hùng liệt sĩ thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ mà không sợ rối đạo. Chính nhờ những tham dự trên, tín hữu Công giáo thực sự đứng trong lòng dân tộc, là người Việt Nam theo đúng nghĩa. Ở nhiều làng Công giáo, tín hữu góp công góp của giúp làng lương xây dựng cơ sở thờ tự của họ. Ngược lại, một số làng lương cũng góp tiền của để làng giáo xây thánh đường trong một tinh thần hòa hợp, đại kết. Những ngày lễ trọng của Phật giáo và một số tôn giáo khác như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, đã có sự hiện diện của linh mục. Và những ngày lễ trọng (nhất là lễ Noel), người tín hữu lại thấy có sự hiện diện của chức sắc Phật giáo, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo.

Những thành tựu đạt được của Công giáo Việt Nam trên bước đường hội nhập văn hóa đã và đang có những đóng góp thiết thực vào việc phát triển bền vững đất nước. Những thành tựu đạt được hứa hẹn những điều tốt đẹp sẽ diễn ra trong tương lai. Nhưng cũng đặt ra cho Công giáo ở Việt Nam những thách đố từ phía giáo quyền cũng như đối với mỗi tín hữu. Bởi con đường hội nhập văn hóa phải được tiến hành thường xuyên, liên lỉ, kế thừa và sáng tạo. Bởi văn hóa Việt là văn hóa mở luôn tiếp thu những tinh hoa bên ngoài để bồi trúc, đồng thời thải loại những gì là lạc hậu, không còn đáp ứng được thực tế.


1 Tài liệu của Nguyễn Thị Phương trong luận văn cao học: Tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở tỉnh Hà Nam hiện nay - Một số vấn đề đặt ra. Hà Nội, 2014.

PGS.TS Nguyễn Hồng Dương

Từ khoá:
Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Hơn năm mươi năm trước, có một chú bé thường sang xưởng vẽ gần nhà, say sưa ngắm nhìn các tranh vẽ về nhà thờ, về Chúa Giêsu… Nét vẽ đã tạo nên dấu ấn thánh thiện ngay từ năm tháng đó, thật bất ngờ, chú bé ấy về sau...
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
“Thời gian không phải là vàng. Thời gian quý hơn vàng, vì thời gian không bao giờ trở lại. Chính xác như Gimiko” là câu quảng cáo kèm tiếng ngựa hí vang từng xuất hiện với tần suất dày trên các kênh truyền hình vào những khung giờ vàng, đã...
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Ở Sài Gòn, không khó để bắt gặp những lớp học cưỡi ngựa hay các trang trại có dịch vụ chụp ảnh cùng ngựa.
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Đầu Xuân, trò chuyện cùng vợ chồng họa sĩ Đức Lâm
Hơn năm mươi năm trước, có một chú bé thường sang xưởng vẽ gần nhà, say sưa ngắm nhìn các tranh vẽ về nhà thờ, về Chúa Giêsu… Nét vẽ đã tạo nên dấu ấn thánh thiện ngay từ năm tháng đó, thật bất ngờ, chú bé ấy về sau...
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
Chiếc đồng hồ mang biểu tượng ngựa phi
“Thời gian không phải là vàng. Thời gian quý hơn vàng, vì thời gian không bao giờ trở lại. Chính xác như Gimiko” là câu quảng cáo kèm tiếng ngựa hí vang từng xuất hiện với tần suất dày trên các kênh truyền hình vào những khung giờ vàng, đã...
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Không khó để trở thành “kỵ sĩ”
Ở Sài Gòn, không khó để bắt gặp những lớp học cưỡi ngựa hay các trang trại có dịch vụ chụp ảnh cùng ngựa.
Đua ngựa ở Sài Gòn qua những dòng ký ức
Đua ngựa ở Sài Gòn qua những dòng ký ức
Môn đua ngựa chuyên nghiệp đã qua thời vàng son từ lâu. Ngựa đua đã tháo vó, nài ngựa đã thu roi, nhưng mỗi khi đi ngang khu vực trường đua Phú Thọ xưa, người hoài cổ vẫn thấy chút nao nao.
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Đọc lại truyện con ngựa trong tranh
Ở Trung Hoa, kỳ thư Liêu Trai Chí Dị 聊齋誌異 được Bồ Tùng Linh 蒲松齡 (1640-1715) sáng tác trong khoảng hơn bốn mươi năm, từ cuối đời Minh (1368-1644) sang đầu đời Thanh (1644-1912).
Rượu Việt trong cảm thức người phương Tây xưa
Rượu Việt trong cảm thức người phương Tây xưa
Nền văn hóa ẩm thực của dân Việt, tự cổ chí kim, dù có những thay đổi, nhưng tìm hiểu căn cốt, vẫn có những mẫu số chung bất biến. Hãy nhìn xem, trong mâm cơm người Việt, bát nước mắm nào có thể thiếu, và công thức cơm -...
“Chợ Tết Bắc”  giữa lòng đô thị phương Nam
“Chợ Tết Bắc” giữa lòng đô thị phương Nam
Sài Gòn có những góc phố, phiên chợ đượm hương Tết của vùng Bắc Bộ xưa. Vùng Ông Tạ cùng sắc xanh lá dong, xôi đỗ, chè Thái Nguyên; chợ Xóm Mới với mùi thơm nồng nàn của giò chả, măng miến... Những phiên chợ đậm nét văn hóa như...
Dải hoa vàng nối hai miền quê
Dải hoa vàng nối hai miền quê
Tôi trung niên và rồi đến lúc cũng phải già đi. Có thể cảm xúc rộn ràng với Tết nhất sẽ dần lùi sâu vào bên trong. Nhưng trong đất trời hoa vàng vẫn hẹn về lộng lẫy.
Nghề chùi lư và sự kết nối tổ tiên
Nghề chùi lư và sự kết nối tổ tiên
Khi tháng Chạp về, kéo theo những tất bật quen thuộc của chuỗi ngày cuối năm Âm lịch. Đường sá bắt đầu thay áo bởi sắc vàng của cúc, của mai, điểm thêm chút đỏ của dây pháo, của những tấm liễn treo kín trước cửa tiệm.