Làng guốc Bình Nhâm chỉ còn trong ký ức

Một thời guốc mộc

Lịch sử kể rằng đôi guốc đã xuất hiện ở Việt Nam từ rất sớm. Theo một số sách cổ ghi chép lại, bà Triệu (ở thế kỷ thứ III) đã đi guốc bằng ngà voi. Thời xưa, ở nông thôn, chỉ mỗi khi đến dịp hội hè thì cánh đàn ông và chị em phụ nữ mới lấy guốc tre ra mang. Những đôi guốc giản dị do người dân tự đẽo lấy xuất hiện đầu tiên ở Phú Yên (Nam Trung Bộ). Cho đến năm 1900, đôi guốc “di cư” vào miền Nam với hình ảnh các cậu học trò nam trường công mặc áo bà ba trắng, chân mang guốc gỗ. Khi đôi guốc bắt đầu du nhập vào đời sống sinh hoạt của người Nam Bộ, cũng là lúc làng nghề làm guốc ở Bình Nhâm ra đời.

Ông Văn Đua, chủ cơ sở guốc mộc Út Đua – ấp Bình Thuận, xã Bình Nhâm, tỉnh Bình Dương cho biết thời kỳ hưng thịnh nhất của nghề guốc ở Bình Nhâm là sau năm 1975. Dễ hiểu vì đó là lúc Việt Nam khó khăn, còn đóng cửa với thế giới nên không có nguyên liệu sản xuất những loại giày dép bằng da, bằng nhựa, vậy là dùng lại đôi guốc truyền thống. Trong gia đình một người làm guốc rồi dạy nghề cho vợ chồng, con cái, anh chị em. Những cơ sở tại gia như vậy thường có từ 3 đến 4 thợ thuê ngoài, nửa còn lại là người có máu mủ ruột thịt làm chung với nhau. Mỗi xóm (hay còn gọi là trại) có đến hơn chục nhà đóng guốc, tiếng lộc cộc của dùi đục gơ vào những thớ gỗ vang từ đầu đến cuối ngơ. Bình Nhâm lúc bấy giờ có hơn cả trăm nhà làm guốc mộc, mỗi ngày một trại ra thành phẩm hơn 700 đôi là chuyện bình thường. Và cũng từ đó mà nơi này được biết đến như một làng nghề nổi tiếng cung cấp guốc mộc cho nhiều vùng miền ở Nam Bộ.

Công đoạn tạo hình guốc mộc

Thời kỳ đầu, để ra được những chiếc guốc có đôi phải trải qua rất nhiều công đoạn, đòi hỏi sự khéo léo và tỉ mỉ của người thợ chuyên biệt ở từng khâu. Đầu tiên, người ta phải phân chia những cây gỗ (cao su, xoan, mít,) nguyên liệu ra thành từng khúc – dân trong nghề gọi là “dứt cây”. Tiếp đó, các chị em phụ nữ chăm chút từng đường bút chì để tạo những nét phác họa thân guốc và đế guốc. Do làm thủ công, chẳng có thước đo đạc, nên họ ước lượng và dựa vào kinh nghiệm để nhắm chiều dài và chiều rộng của chiếc trái, chiếc phải tương xứng với nhau. Vì vậy nên kiểu dáng khá khiêm tốn, chỉ chia ra làm hai loại cao 5 phân và thấp 3 phân. Công đoạn này tuy nhẹ nhàng, nhưng đòi hỏi sự chính xác khá cao vì chỉ lệch đi vài milimét thì sẽ ra chiếc cao chiếc thấp. Hội đàn bà vẽ xong thì đến cánh đàn ông dùng cưa gọt theo đường đã kẻ sẵn để cho ra hình thù của từng chiếc guốc. Guốc của phụ nữ có thắt eo ở chính giữa, còn đàn ông thì không nên dân gian gọi là guốc xuồng. Chị Tám – một thợ vẽ guốc kể: “Ngày xưa, để cất giấu vàng bạc khi đi xa, người ta còn khoét một phần rỗng ở gót để mang theo làm lộ phí đi đường”.

Cho ra được hình hài của từng chiếc guốc, từng cái gót, người làng Bình Nhâm mang chúng đi nung hút bớt nước trong thân gỗ để lúc ra thành phẩm đôi guốc sẽ nhẹ, người mang không cảm thấy nặng chân. Chúng tôi được ông Đua dẫn ra phía sau nhà để xem cái lò nung được đốt bằng củi khô và mạt cưa. Đợi thân guốc nguội, thợ chà láng sẽ giúp cho những dằm gỗ trên thân mất đi và công đoạn cuối cùng là sơn phết, đóng quai rồi ra thành phẩm hoàn chỉnh. Dần dà, có máy móc, những khâu cưa thân guốc, chà láng nhanh hơn, thợ không phải dùng sức nhiều nhưng thay vào đó, tai nạn lao động cũng tiềm ẩn. Anh Phương Tùng – con của ông Út Đua vừa đưa những thớ gỗ vào máy cưa vừa cười khà khà chỉ vào mấy vết sẹo trên tay, nói: “Trước mang bao tay để bảo vệ, nhưng thấy vướng víu quá nên tui cởi ra luôn. Mấy vết sẹo này là do cưa xẹt qua lúc quay cái eo của guốc”.

Thợ đang vẽ đế guốc

Có tận mắt chứng kiến mới thấy được sự vất vả, nhọc nhằn của người thợ khi làm ra được một đôi guốc. Nhìn bàn tay đầy những “ông sao”, khi thì “sao băng”, lúc lại “sao mộc” là đếm ra được bao nhiêu lần lưỡi cưa đi xém qua họ. Trông đôi lưng còng của người phụ nữ mới ngoài bốn mươi khom mình xuống cái máy chà láng miết từng thân guốc là biết chị ngồi từ sáng đến chiều, có lúc quá bữa cơm tối vì hàng gấp lại neo người. Khi ăn nên làm ra, làm được bao nhiêu là bán hết sạch bấy nhiêu. Cả chủ lẫn thợ đều có thể lo cho gia đình nồi cơm đầy, tô canh chua cá lóc nóng hổi, hàng chạy có cả nồi thịt kho tiêu thơm phức và dấm dúi ít nhiều tích lũy pḥng thân.

Rất khẽ tiếng xưa vọng về…

Nói “rất khẽ” là vì, Bình Nhâm nay không còn rộn ràng nhịp búa nhịp gỗ của nghề guốc xưa. Hiện tại chỉ có gia đình của ông Út Đua và người cháu sản xuất guốc mộc theo cách thủ công. Cả trăm gia đình khác đã bỏ nghề từ hơn chục năm nay. Họ không trụ nổi do hàng ứ đọng vì người ta đang lãng quên một sản phẩm mang cốt cách Việt này, do thời trang giày dép du nhập từ Hàn Quốc, Tây phương “ùn ùn” kéo vào với nhiều chọn lựa tân thời.

Với người trẻ, mặc quần jean áo thun ai lại đi đôi guốc của những năm 90, họ cho đó là lỗi mốt và không hợp thời, vì vậy nên guốc chỉ bán cho những bà già ở quê, khách du lịch sang Việt Nam muốn mua làm quà lưu niệm mang về nước, hoặc thi thoảng là những đạo cụ cho một buổi văn nghệ ca múa nhạc dân tộc. Trên gương mặt của người đàn ông đã ngoài sáu mươi, có hơn 40 năm gắn bó với nghề hằn lên những vết nhăn vì tuổi tác, và cả những nếp nhăn của nỗi buồn khi nhìn cái nghề đang mai một từng ngày, ông bảo : “Tui không tính cho thằng con trai theo nghề của mình vì cực quá, và bây giờ chỉ cầm cự ngày 500 đôi mà lúc bán được lúc không, cuộc sống thiếu nhiều hơn đủ. Còn làm đến giờ này là do cái lòng tui trót yêu tiếng lộc cộc của nó”.

Công đoạn dán keo đế guốc

Vì khó khăn trăm bề nên họ cũng không làm toàn bộ quy trình mà chỉ dừng lại ở khâu gia công phôi guốc, sau đó, đem đi bỏ cho các tiệm sơn khu chợ ở Thạnh Lộc – quận 12, thành phố Hồ Chí Minh. Rồi thương lái ở đây đến lấy hàng, đem về đóng quai và mang đi bán, khi thì ra chợ Bến Thành – khu trung tâm Sài Gòn cho khách du lịch, lúc lại đưa về làng quê hay vùng ngoại ô cho các bà các chị mua mang đi chợ.

Khá nhất trong nghề guốc bây giờ ở Bình Nhâm là doanh nghiệp Hùng Thái, nguyên là cơ sở gia đình guốc mộc Ba Thân được phát triển lên thành công ty trách nhiệm hữu hạn để xuất khẩu guốc sang nước ngoài. Khi thị trường trong nước đi xuống không phanh, họ chuyển hướng sang thị trường nước ngoài. Theo anh Thái Văn Anh Hùng – chủ doanh nghiệp, guốc ở đây chủ yếu xuất đi các nước châu Âu và thường hàng sẽ chạy vào mùa hè, cứ mỗi ngày như vậy họ cho xuất xưởng lối 1.500 đôi. Lúc còn làm ăn được – vào khoảng từ năm 2000 đến 2007, anh thuê hơn 200 công nhân, tuy nhiên con số đó giờ chỉ còn một nửa. Anh Hùng lắc đầu : “Có rất nhiều doanh nghiệp lên công ty rồi cũng phá sản nhiều vì vốn nặng – gỗ phải nhập từ nước ngoài do gỗ nội địa chưa rõ ràng tiêu chuẩn chất lượng và chất độc hại bên trong nên phía khách hàng không chấp nhận. Ngoài ra mẫu mã luôn phải đổi mới cho hợp thời. Rồi hàng Trung Quốc phá giá, đặc biệt là loại guốc Kimônô rất dễ bắt chước. Những thách thức này khiến sản xuất ngày càng teo tóp trong khi vẫn phải đảm bảo cuộc sống cho anh chị em công nhân”. Nói rồi anh trầm ngâm, gác cặp kiếng cận lên trán thở dài: “Lớn thuyền lớn sóng. Làm nhỏ lo theo phận nhỏ, mở to lo chuyện của to”.

*

Ghé Bình Nhâm, được tận tai nghe những tiếng lộc cộc rất đỗi dung dị và thanh thoát, cảm nhận được cái nhẹ nhàng trong từng tiếng guốc khua mới hiểu hết cái hồn guốc mộc đã lay động trái tim của nhạc sĩ Trần Quang Lộc: “...Về đây mặc áo the đi guốc mộc...”. Chợt thấy bâng khuâng... Rồi hai, ba năm nữa khi quay lại đây, có còn được nghe âm thanh đó nữa chăng, dù ngay hiện tại cũng chỉ phát ra từ hai căn nhà ở đầu ngõ?

Duy Hòa

Chia sẻ:

Bình luận

có thể bạn quan tâm

Thơm lừng hương bánh đa dân dã
Thơm lừng hương bánh đa dân dã
Có dịp đi ngang quốc lộ 80, đoạn qua xã Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ và xã Tân Hiệp, tỉnh An Giang, khách cảm thấy thú vị khi trước nhiều ngôi nhà ven đường là những giàn bánh đa treo cao, xếp nối tiếp nhau.
Giữ “hồn quê” trong những cánh hoa tết
Giữ “hồn quê” trong những cánh hoa tết
Giữa nhịp sống hối hả của những ngày giáp Tết, khi Sài Gòn rực rỡ ánh đèn và thị trường tràn ngập những loại hoa giả công nghiệp được đúc khuôn hàng loạt, thì tại những con hẻm nhỏ ở giáo xứ Bình Thuận và giáo xứ Tân Phú Hòa,...
Khiếm thính quán, nơi yêu thương lên tiếng
Khiếm thính quán, nơi yêu thương lên tiếng
Ðúng như tên gọi, Khiếm Thính Quán là quán nước do chính các bạn trẻ khiếm thính làm chủ mọi công việc phục vụ.
Thơm lừng hương bánh đa dân dã
Thơm lừng hương bánh đa dân dã
Có dịp đi ngang quốc lộ 80, đoạn qua xã Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ và xã Tân Hiệp, tỉnh An Giang, khách cảm thấy thú vị khi trước nhiều ngôi nhà ven đường là những giàn bánh đa treo cao, xếp nối tiếp nhau.
Giữ “hồn quê” trong những cánh hoa tết
Giữ “hồn quê” trong những cánh hoa tết
Giữa nhịp sống hối hả của những ngày giáp Tết, khi Sài Gòn rực rỡ ánh đèn và thị trường tràn ngập những loại hoa giả công nghiệp được đúc khuôn hàng loạt, thì tại những con hẻm nhỏ ở giáo xứ Bình Thuận và giáo xứ Tân Phú Hòa,...
Khiếm thính quán, nơi yêu thương lên tiếng
Khiếm thính quán, nơi yêu thương lên tiếng
Ðúng như tên gọi, Khiếm Thính Quán là quán nước do chính các bạn trẻ khiếm thính làm chủ mọi công việc phục vụ.
Có một xóm “đương” cần xé
Có một xóm “đương” cần xé
Một đoạn đường dài thuộc ấp Chí Thành, xã Tân Hội, tỉnh An Giang (trước đây là xã Tân Thành, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang) đậm mùi trúc, quyện hương đất, tạo nên một cảm giác quen thuộc.
Gia đình bong bóng Mary
Gia đình bong bóng Mary
Với 30 thành viên, Gia đình bong bóng Mary ra đời chỉ với một niềm mong duy nhất là đem đến niềm vui cho trẻ thơ bằng những quả bong bóng tạo hình, món quà giản dị nhưng đầy màu sắc.
Gia đình 3 đời làm nghề giá đỗ truyền thống
Gia đình 3 đời làm nghề giá đỗ truyền thống
Có những nghề mưu sinh giản dị nhưng lại bền bỉ, vững vàng. Gia đình bà Vũ Thị Bích Thủy, giáo dân xứ Phú Thọ Hòa, TGP TPHCM, là minh chứng cho sự bền bỉ ấy với nghề sản xuất giá đỗ truyền thống.
“Xóm đậu hũ” ở xứ đạo Bùi Môn
“Xóm đậu hũ” ở xứ đạo Bùi Môn
Từ năm 1954, trong hành trình xuôi về phương Nam, những người con xứ đạo Thủy Nhai (giáo phận Bùi Chu) đã mang theo một hành trang quý giá: nghề làm đậu hũ gia truyền.
Bảo Thy và dự án “Công Dân Số Bạc”
Bảo Thy và dự án “Công Dân Số Bạc”
Giữa nhịp sống hiện đại với tốc độ chuyển mình chóng mặt của công nghệ, đôi lúc  chúng ta vô tình bỏ quên những người lớn tuổi, với mái đầu đã ngả màu thời gian.
Những chiếc quạt đưa miền ký ức
Những chiếc quạt đưa miền ký ức
Sau khi di cư từ miền Bắc vào năm 1954 và bén duyên với vùng đất mới, những người đến đất Lạc An, (huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ) ngay từ thời gian đầu đã chọn lấy nghề đan lát.