Ái kỷ là cách gọi Việt hóa cho từ Narcisism trong tiếng Anh, chỉ hội chứng tự yêu mình quá mức. Chứng này có thể phát triển thành bệnh tâm lý gọi là “hội chứng rối loạn nhân cách ái kỷ” (Narcissistic Personality Disorder/ NPD). Chiết tự cụm từ “ái kỷ”, nghĩa đen là yêu (ái) bản thân (kỷ), khiến nhiều người phân vân, hiểu lầm giữa chứng ái kỷ và tình yêu bản thân. Vậy ái kỷ khác với yêu bản thân ở chỗ nào?
Trước hết, trong 4 giai đoạn phát triển tâm lý của đời người, giai đoạn đầu tiên là giai đoạn quy ngã, đứa trẻ ở thời kỳ ấu thơ có nhu cầu khẳng định mình rất cao, biểu lộ qua việc giữ khư khư đồ chơi ưa thích, dễ hơn thua với bạn bè, thích trở nên quan trọng, ghét bị mắng mỏ hoặc bắt lỗi công khai... Sự “ái kỷ” đầu đời là nền tảng quan trọng để trẻ hình thành lòng tự trọng, tự tin và tự lập sau này. Nếu bị gia đình “vùi dập” quá sớm hoặc tâng bốc quá đà, dẫu xuất phát từ tình yêu thương, cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của trẻ. Đứa bé thường xuyên bị người lớn “dìm hàng” chẳng học được tính khiêm tốn, chỉ trở nên nhút nhát, yếu đuối, mặc cảm. Đứa bé được nuông chiều, tán tụng tận mây xanh dễ nhiễm thói ảo tưởng và kiêu căng chứ chẳng tài giỏi, mạnh mẽ hơn. Cả hai đều dễ mắc chứng ái kỷ hơn những trẻ khác, bởi gốc rễ của ái kỷ là sự tự ti/ tự tôn quá mức được nuôi dưỡng từ thời niên thiếu.
Sau 3-6 tuổi, nếu trẻ vẫn tiếp tục phát triển tính khí ấy, sẽ có nguy cơ trở thành chứng ái kỷ với các dấu hiệu thường thấy như: Luôn đố kỵ với người nổi trội hơn mình, giận dữ khi không được chú ý. Thích kiểm soát và thống trị. Tự cao tự phụ, nghĩ mình đặc biệt hơn người. “Nghiện” cảm giác được ngưỡng mộ, tôn thờ. Thiếu cảm thông với người khác, nhất là người yếu thế…
Thuật ngữ tâm lý học hiện đại lấy tên Narcissus - một mỹ nam trong thần thoại Hy Lạp đặt cho hội chứng ái kỷ. Chàng lỡ yêu chính hình bóng của mình dưới mặt hồ đến quên ăn quên uống, cứ mải ngắm nhìn gương mặt bản thân, để rồi kiệt sức rồi qua đời, thân xác hóa thành hoa thủy tiên. Được chọn làm ví dụ điển hình cho chứng ái kỷ, vì chàng không thực sự yêu thương chính mình, thứ chàng mê đắm đến chết chỉ là ảo ảnh đẹp đẽ lung linh, đúng kiểu “hoa trong gương, trăng dưới nước”. Chàng đã “thả mồi bắt bóng”, bỏ bê sức khỏe bản thân, mặc kệ những điều quan trọng khác trong đời để đắm chìm trong tình yêu vô vọng với bóng mình trên mặt nước. Người ái kỷ cũng thế, họ cố tô vẽ bản thân thành một hình mẫu lý tưởng rồi say mê nó. Họ chỉ hướng đến hình mẫu “vĩ đại” trong tưởng tượng, đồng thời đòi hỏi mọi người ca ngợi hình mẫu ấy. Đây là điểm mấu chốt phân biệt hội chứng ái kỷ (Narcissism) với yêu bản thân (Self-love hoặc Philautia theo tiếng Hy Lạp).
Theo triết gia Aristotle, người vừa yêu bản thân vừa giữ được nguyên tắc đạo đức là điều tốt đẹp nhất, người yêu bản thân chỉ nhằm đạt lợi ích không chính đáng là điều xấu. Aristotle cho rằng tiếc thay, không phải ai cũng làm được “điều tốt đẹp nhất”. Trước kia, yêu bản thân bị gộp chung với ái kỷ, ích kỷ, phù phiếm. Nhờ ảnh hưởng từ các phong trào đòi quyền con người và sự gia tăng nhận thức về sức khỏe tâm thần, yêu bản thân dần được nhìn nhận theo hướng tích cực hơn, giúp ngăn chặn việc lạm dụng chất gây nghiện và xu hướng tự tử. Tình yêu bản thân lành mạnh chính là sự tự tin, tự trọng, biết rõ giá trị bản thân, biết từ chối những yêu cầu quá đáng và đối xử dịu dàng với chính mình. Người thật sự yêu thương bản thân chẳng cần “phông bạt” mình thành hình tượng hoàn hảo để được tung hô. Họ biết rõ mình chỉ là một con người bình thường, có ưu có khuyết, có cá tính, sở thích và lối sống riêng. Họ đón nhận và yêu quý sự bình thường, yếu đuối của chính mình. Nhờ vậy, họ càng bao dung cởi mở hơn với những điều khác biệt trong xã hội.
Người yêu bản thân không dằn vặt mãi chỉ vì phạm sai lầm, ngược lại trưởng thành hơn nhờ sai lầm đó. Họ có thể sống một đời bất toàn, trắc trở, nhiều hối tiếc, nhưng sau khi vượt qua thử thách, nhìn lại quá khứ và cảm ơn chính mình, cảm ơn vì mình đã giữ lòng can đảm và không bao giờ bỏ cuộc.
Ths-Bs Lan Hải
Bình luận