Vào năm 380, Công giáo được Hoàng đế Theodosius I (347-395) công nhận là quốc giáo, nhờ vậy cuộc bức hại 300 năm nhắm vào tôn giáo hoàn toàn chấm dứt tại La Mã. Từ đó, ảnh hưởng từ La Mã dần len lỏi vào Công giáo, trong đó có “sự tích” ngày lễ Giáng Sinh.

Trước khi Công giáo được công nhận, La Mã thường coi đạo thờ thần Mithra như quốc giáo. Đạo này bắt nguồn từ Iran cổ đại, du nhập vào La Mã vào thế kỷ II hoặc III TCN. Thần Mithra tượng trưng cho mặt trời, công lý, lời thề và chiến tranh. Khi “nhập tịch” La Mã, thần được đổi tên thành “Sol Invictus”, tức là “thần mặt trời bất khả chinh phục”. Người La Mã chọn ngày Đông chí hằng năm để tôn vinh thần mặt trời, tức ngày 25 tháng 12 theo lịch thời đó. Đây còn là ngày hội tôn vinh thần nông Saturn, diễn ra từ ngày 17 đến 25 tháng 12. Hoạt động quen thuộc trong lễ mừng thần nông là tiệc tùng, vui chơi, trao đổi hoa và quà. Đối với người La Mã, Đông chí là thời điểm quan trọng. Bởi đây là khi ngày ngắn nhất và đêm dài nhất, con người mới hân hoan đón mặt trời ló dạng, chào mừng ánh sáng trở về. Không chỉ La Mã tổ chức lễ Đông chí, nhiều quốc gia khác cũng có lễ hội riêng. Ví dụ Trung Hoa coi Tết Đông chí là dịp đoàn viên; người Mỹ gốc Phi có lễ kỷ niệm Kwanzaa dựa trên lễ hội ngày mùa ở châu Phi; Iran và các nước Trung Á có Đêm Yalda (Shab-e Yalda); người Do Thái có “lễ hội ánh sáng” Hanukkah; người Đức và Bắc Âu cổ có lễ hội mùa Đông Yule… Dù mỗi lễ hội đều có màu sắc độc đáo riêng, ý nghĩa chung vẫn là đón chào ánh sáng trở lại sau màn đêm dài nhất năm.
Đến đầu thế kỷ IV, khi Công giáo đã được phổ biến rộng rãi trong đế chế La Mã, tục thờ thần mặt trời Mithra và tín ngưỡng đa thần nhanh chóng lùi vào dĩ vãng. Ngày Đông chí từng dùng để chúc tụng thần mặt trời và thần nông, nay được chọn làm ngày Chúa Giêsu chào đời nhằm thu hút thêm nhiều tín đồ đa thần cải đạo sang Công giáo. Ánh sáng sau đêm Đông chí không còn tượng trưng cho thần mặt trời, nó hóa thành ngôi sao sáng ngời trong đêm Chúa ra đời tại Bethlehem. Tuy nhiên, dấu ấn tín ngưỡng đa thần thời La Mã vẫn được kế thừa, phát huy đến tận ngày nay. Đó là tổ chức tiệc Giáng Sinh, bày trò chơi và tặng nhau quà cáp, vốn là phong tục của lễ hội thần nông Saturn từ ngàn xưa. Khi Công giáo mở rộng ra nhiều nước châu Âu khác, ngày hội này du nhập thêm nhiều yếu tố ngoại giáo. Chẳng hạn cây thông Noel, nhánh tầm gởi, bánh hình khúc cây ảnh hưởng từ lễ hội Yule của người Đức và Bắc Âu. Hình tượng ông già Noel cũng ra đời trong sự giao thoa văn hóa đó. Dù nguyên mẫu ông già Noel được cho là Thánh Nicholas, thực ra ông ấy còn mang đặc điểm của thần Wodan (Odin) trong thần thoại Bắc Âu và Father Christmas của truyện dân gian nước Anh. Tất cả sự bổ sung, thêm thắt của lịch sử đã biến Giáng Sinh thành dịp lễ trọng đại của Công giáo, không chỉ là đêm Chúa Giêsu ra đời, mà còn là khoảng thời gian mọi người quây quần bên gia đình, bạn bè, và sẻ chia tình thương, lòng bác ái, niềm vui và hy vọng.
Tình thương và lòng bác ái là lời dạy của Chúa Giêsu. Niềm vui và hy vọng là âm hưởng ngàn đời từ các lễ hội Đông chí cổ xưa, khi ánh mặt trời lóe lên sau đêm trường lạnh giá khiến bao người mừng rỡ.
“Ôi Đêm Thánh!
Ngàn sao trời tỏa sáng lung linh.
Đây là đêm Đấng Cứu Thế giáng trần!
Khi Người đến, mỗi linh hồn đều cảm thấy tự hào.
Niềm hy vọng dâng trào, thế gian mong mỏi hân hoan
Vì phía xa kia, bình minh huy hoàng đang tỏa rạng”.
(Trích dịch ca khúc “O Holy Night”)
Ths-Bs Lan Hải
Bình luận