Mười Điều Răn được coi như bản hiến pháp đầu tiên và căn bản của dân Thiên Chúa thời Cựu Ước. Chúa Giêsu đến, không phải để bãi bỏ, nhưng để kiện toàn những gì trong Cựu Ước, nên Tám Mối Phúc Thật được Chúa Giêsu công bố cũng là bản hiến pháp Nước Trời trong thời Tân Ước. Từ ngày công bố cho đến nay, nhiều công dân Nước Trời vẫn chưa hiểu rõ nội dung và tầm quan trọng đó, nên chưa cảm nghiệm được hạnh phúc thật sự.

Tầm quan trọng và giá trị siêu việt của Tám Mối Phúc Thật
Giống như ông Môsê lên núi nhận hai bia đá ghi 10 điều răn là chính lời của Chúa truyền dạy cho dân, Đức Giêsu cũng công bố Tám Mối Phúc Thật trên núi. Rồi trong tư cách là Con Một Thiên Chúa, Ngôi Lời Thiên Chúa làm người, Đức Giêsu dạy họ 8 mối phúc để kiện toàn 10 điều răn trước đây.
Trong gần 2.000 năm qua, dường như chúng ta đôi khi quá chú trọng vào những tranh luận học thuật về văn bản, như việc có 8 hay 9 mối phúc trong Tin Mừng theo thánh Matthêu (x. Mt 5,3-12) hoặc 4 mối phúc theo thánh Luca (x. Lc 6,20-23), cũng như nhiều mối phúc khác trong toàn cuốn Tân Ước (x. Mt 13,16; 24,26; Lc 1,45; Ga 20,2; Kh 1,3; 14,13; 20,6; 22,7...).
Một thực tế đáng suy ngẫm là trong sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo được Tòa Thánh công bố năm 1992 và được xuất bản năm 2009 tại Việt Nam, phần trình bày về Mười Điều Răn chiếm dung lượng lớn hơn nhiều so với Tám Mối Phúc. Cụ thể, phần nói về đời sống trong Đức Kitô, đã trình bày Tám Mối Phúc trong 14 số, từ số 1.716 đến 1.729 và Mười Điều Răn trong 506 số, từ số 2.052 đến 2.557, nghĩa là phần trình bày về Mười Điều Răn dài hơn, gấp 35 lần Tám Mối Phúc. Việc trình bày như thế khiến người tín hữu hiểu lầm: Tám Mối Phúc không quan trọng và không có giá trị hơn Mười Điều Răn. Vì thế, họ vẫn xét mình theo Mười Điều Răn mỗi khi đi xưng tội, và vẫn sống theo tinh thần của đạo cũ, thay vì theo tinh thần tích cực của đạo mới.
Tám Mối Phúc chính là bản Hiến pháp của Nước Trời, là con đường dẫn đến hạnh phúc đích thực. Thế nhưng, giữa một thời đại thực dụng, những lời dạy này dường như trở nên “ngược đời”. Trong khi thế gian mải mê theo đuổi quyền lực và sự hưởng thụ cá nhân, thì Đức Kitô lại chúc phúc cho tinh thần nghèo khó, lòng hiền lành và sự thương xót. Chính sự “lệch pha” đầy nghịch lý đã khiến không ít tín hữu vô tình bỏ lỡ vận hội để chạm đến niềm vui siêu nhiên và sự bình an sâu thẳm mà thế gian không thể ban tặng.

Hiến pháp Nước Trời
Nếu tìm hiểu về cấu trúc của 2 bản hiến pháp cũ và mới, ta sẽ thấy được sự gọn gàng, tinh tế, tích cực của hiến pháp mới. Trong hiến pháp cũ, 3 điều đầu tiên nói đến thái độ đối với Thiên Chúa và 7 điều còn lại là thái độ đối với tha nhân. Hiến pháp mới cũng dành 3 điều đầu tiên cho Chúa và 5 mối phúc còn lại đối với muôn loài.
“Bản hiến pháp mới” thu gọn thành tám điều bởi vì hai điều răn VI và IX: “Chớ làm điều dâm đãng và ước muốn điều dâm đãng” được thu gọn vào “Phúc cho ai có lòng trong sạch vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”. Một khi giữ được lòng mình trong sạch, không chiều theo dục vọng, họ sẽ nhìn thấy Chúa trong mọi người, mọi vật quanh mình để tôn trọng, yêu thương và cảm nhận được hạnh phúc trong tình yêu. Hai điều răn VII và X: “Chớ lấy và tham của người” để chiếm đoạt cho mình được thu gọn vào “Phúc cho ai có lòng thương xót”, nghĩa là biết chia sẻ của cải vật chất cũng như tinh thần cho người khác, “thì sẽ được Thiên Chúa xót thương”, ban cho họ muôn vàn ân huệ.
Hiến pháp cũ hầu hết là những điều khoản không được phép làm. Toàn bộ hiến pháp mới giới thiệu những điều tích cực, nhấn mạnh đến chiều kích siêu nhiên như “tinh thần nghèo khó”, “tâm hồn trong sạch”, “đói khát sự công chính”, “bị bách hại vì lẽ công chính”… Đường hướng tinh thần này mở ra cho con người được tự do, tự chủ, tự quyết định con đường mình đi để tới cõi vĩnh hằng.
Nếu phân tích từng mối phúc so sánh với từng điều răn được sách Xuất Hành (x. Xh 20,2-17) và sách Đệ Nhị Luật (x. Đnl 5,6-21) quy định, rồi được sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo làm thành công thức giáo lý (GLHTCG, số 2052), ta càng thấy sự tinh tế và tính cách mới mẻ của Chúa Giêsu trong hiến pháp mới.
Ví dụ Điều răn I với nhiều điều khoản trong sách Xuất Hành (20,2-9) và sách Đệ Nhị Luật (Đnl 5,6-7) tạo thành công thức giáo lý: “Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự” (x. GLHTCG, số 2083-2141), Đức Giêsu chỉ tóm tắt và kiện toàn bằng một câu ngắn gọn: “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó vì Nước Trời là của họ”. Đó là tinh thần của người tự nhận biết mình không có bất cứ một thứ gì là của riêng, nên hoàn toàn tin tưởng và phó thác đời mình trong tay Chúa. Đây mới là thái độ thờ phượng đích thực theo Thần Khí và sự thật mà Chúa Cha mong muốn trong câu chuyện giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ Samari (x. Ga 4,24).
Ví dụ Điều răn II quy định “Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ”, vì người Do Thái thường lạm dụng danh Chúa để bảo đảm cho việc giao tiếp, buôn bán của họ. Chúa Giêsu mời gọi sống “hiền lành”, không cần thề thốt và hoàn toàn trông cậy vào Chúa là Đấng thấu suốt lòng người, để Ngài ban cho ta những gì ta hy vọng. Đó là đức trông cậy hoàn hảo nhất.
Ví dụ Điều răn III quy định: “giữ ngày Sabat” của người Do Thái, rồi thành công thức “giữ ngày Chúa nhật” của người Kitô giáo. Chúa Giêsu không thay thế bằng một ngày nào khác, nhưng Người kiện toàn bằng một mối phúc hoàn toàn mới lạ, mà nhiều người chưa hiểu: “Phúc cho ai đau buồn vì họ sẽ được ủi an”. Đau buồn là thái độ của người biết nhận ra thân phận tội lỗi, yếu đuối của mình trước sự thánh thiện, quyền năng vô cùng của Chúa. Chính từ lòng thống hối chân thành này, việc giữ ngày Chúa nhật không còn là một nghĩa vụ mang tính hình thức hay những nghi lễ bên ngoài khô khan. Thay vào đó, nó trở thành một cuộc gặp gỡ sống động, nơi con người dâng lời ngợi khen, cảm tạ và yêu mến Chúa bằng cả đời sống thường ngày.
*
Vài thí dụ trên để thúc đẩy mỗi người nghiên cứu sâu xa hơn nữa về giá trị và tầm quan trọng của hiến pháp Nước Trời. Ta chỉ có thể là công dân tốt của Nước này nếu ghi nhớ và thực hành, để cảm nghiệm được niềm hạnh phúc thật sự và vô tận của Nước Trời.
| “...Việc giữ lễ ngày Chúa nhật trở thành một cuộc gặp gỡ sống động, nơi con người dâng lời ngợi khen, cảm tạ và yêu mến Chúa bằng cả đời sống thường ngày...” |
Lm Antôn Nguyễn Ngọc Sơn
Bình luận